Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện. Thực trạng công tác quản lý đội ngũ cán bộ chủ chốt của quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội. Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đội ngũ cán bộ chủ chốt của quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm cán bộ, công chức 1.
Khái niệm cán bộ Từ trước đến nay, khái niệm cán bộ thường được dùng ở các nước xã hội chủ nghĩa. Khái niệm cán bộ được du nhập vào nước ta và được dùng phổ biến từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đã xuất hiện trong các từ điển Việt Nam như từ điển Bách khoa toàn thư, Đại từ điển Tiếng Việt. Với nội hàm rộng và nhiều cách tiếp cận theo phạm vi, đối tượng nghiên cứu khác nhau nên xung quanh khái niệm này tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1998, cán bộ có 2 nghĩa: “1.
Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước; 2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ”. Với nghĩa thứ nhất, cán bộ không chỉ bao gồm những người làm công tác có nghĩa vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước mà trong cả hệ thống chính trị. Bộ phận cán bộ nghiệp vụ chuyên môn trên đây thường được hình thành thông qua con đường đào tạo từ nhà trường.
Đây là bộ phận cán bộ đông đảo và thường ổn định nhất. Với nghĩa thứ hai, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, cũng cần nhấn mạnh của cả hệ thống chính trị. Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, phân biệt với người thường, không có chức vụ. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt, bổ nhiệm [23;1].
Cán bộ bao gồm: Thứ nhất, những người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, trong hệ thống chính trị, để phân biệt với người không phải là công chức, viên chức Nhà nước. Thứ hai, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức và của cả hệ thống chính trị. Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, phân 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biệt với người không có chức vụ. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt, bổ nhiệm [61].
Nói đến cán bộ là nói đến con người và người làm cán bộ ở nước ta được đặt trong các mối quan hệ xác định: cán bộ với đường lối, chính sách, nhiệm vụ chính trị; cán bộ với tổ chức, bộ máy; cán bộ với phong trào cách mạng của quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn Sửa đổi lề lối làm việc, viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng". “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, TP trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, TP thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [49,K1,Đ4].
Theo quy định này, tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ. Từ các khái niệm nêu trên, trong luận văn này người viết quan niệm, cán bộ là những công chức, viên chức hay người lãnh đạo, quản lý làm việc, hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách Nhà nước hoặc từ các nguồn khác được hình thành từ tuyển dụng, phân công, bổ nhiệm hay đề bạt, bầu cử. Khái niệm công chức “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [49,K2,Đ4].
Khái niệm quản lý, cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện Khái niệm quản lý: Hiện nay, có nhiều khái niệm và cách tiếp cận cận khác nhau về quản lý như: quản lý là quá trình diễn ra các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức và điều chỉnh kế hoạch. Hay, quản lý là hoạt động của một hay nhiều người cùng điều chỉnh công việc của một hay nhiều người khác để đạt được hiệu quả công việc mà cá nhân một người không thể làm được. Cũng có quan điểm cho rằng, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng các phương pháp quản ý để đạt được mục tiêu đề ra. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi [32;10].
Cán bộ quản lý: cũng là người đứng đầu một tổ chức, nhưng nhấn mạnh việc điều hành hoạt động của tổ chức, việc sử dụng công cụ, phương tiện để điều khiển một loại hoạt động nào đó. Cán bộ lãnh đạo: là người đứng đầu của một tổ chức, một phong trào; là người làm thức tỉnh hành vi của người khác. Nội hàm của cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có những điểm giống nhau: Cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều phải nhận thức được khách thể và tác động đến khách thể. Trên cơ sở những đặc điểm, thuộc tính, những quy luật của khách thể, chủ thể ra quyết định, điều khiển khách thể, nhằm 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực hiện mục đích nhất định.
Cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều phải tiến hành quá trình điều khiển. Người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện một số chức năng quản lý và người cán bộ quản lý cũng phải thực hiện một số chức năng lãnh đạo. Cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý giống nhau ở điểm đó. Tuy nhiên, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý cũng có những điểm khác nhau: quá trình lãnh đạo chủ yếu là quá trình định hướng hoạt động của khách thể, còn quá trình quản lý chủ yếu là quá trình tổ chức, sắp xếp, bố trí để thực hiện định hướng của lãnh đạo.
Quá trình lãnh đạo, là quá trình làm thức tỉnh hành vi của con người và định hướng hoạt động cho con người và xã hội là chủ yếu. Nhưng đối tượng tác động của quản lý vừa có thể là con người, vừa có thể là công cụ. Trong quản lý, người cán bộ tác động mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy định trước. Chức năng quản lý là sự tiếp tục của chức năng lãnh đạo, là bước đi kế tiếp của lãnh đạo, đó là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo.
Sự khác nhau giữa cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý chỉ là tương đối. Việc phân biệt sự khác nhau đó có ý nghĩa để tránh sự chồng chéo, trùng lặp trong quá trình hoạt động giữa cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý. Cán bộ chủ chốt: Theo Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2002, "chủ chốt là quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt”. Có thể hiểu, cán bộ chủ chốt để chỉ những người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, nòng cốt thuộc bộ máy tổ chức của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để quản lý, điều hành, lãnh đạo bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhất định và chịu trách nhiệm trước cấp mình, cấp trên về lĩnh vực công tác được giao.
Khi xác định cán bộ chủ chốt, cần đặt cán bộ trong một bộ máy tổ chức nhất định. Có thể có cán bộ ở tổ chức này, trong mối quan hệ này là cán bộ chủ chốt, ngược lại trong mối quan hệ khác lại không phải là cán bộ chủ chốt. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đội ngũ cán bộ: Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 1999 định nghĩa: “đội ngũ được hiểu là một tập hợp số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp hợp thành một lực lượng hoạt động trong một tổ chức”. Đội ngũ cán bộ cũng bao hàm nhiều nội dung.
Xét về mặt cấu trúc, có thể quan niệm đội ngũ cán bộ gồm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất, gồm những cán bộ được hình thành qua con đường đào tạo tại các trường; bộ phận thứ hai, gồm những cán bộ được hình thành qua con đường bầu cử hoặc đề bạt, bổ nhiệm.