Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1. KỶ LUAT LAO ĐỘNG - YEU CAU KHÁCH QUAN CUA QUA TRÌNH LAO ĐỘNG 1. Quan niệm về ky luật lao động "Ky luật" theo Từ điển bách khoa Việt Nam, được hiểu là trật tự nhất định trong hành vi của con người theo những chuẩn mực do luật pháp, đạo đức quy định trong từng thời ky lich sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay của giai cấp, tập đoàn xã hội riêng rẽ hay của một cộng đồng. Kỷ luật là phương tiện để thống nhất hoạt động trong cộng đồng [58].
Theo Từ điển tiếng Việt thì "kỷ luật" là tổng thể nói chung những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức [21]. Như vậy, dưới góc độ chung nhất, kỷ luật được hiểu là những quy định, quy tắc, những trật tự mà con người phải tuân thủ khi tham gia vào hoạt động trong một tổ chức, một tập đoàn hay trong quan hệ với cộng đồng. Những quy tắc, trật tự này có thể đã được chuẩn hóa trong các văn bản pháp luật hoặc cũng có thể chỉ là những quy tắc mang tính chất đạo đức, hoặc thậm chí có thể chỉ là những quy định mang tính chất nội bộ của một tổ chức. Tuy nhiên, có điều đặc biệt là nó đều mang tính chất bát buộc đối với hành vi của con người khi tham gia vào các hoạt động chung của xã hội, cộng đồng, tổ chức đó.
Vì vậy, kỷ luật chính là phương tiện để thống nhất hoạt động chung của con người với nhau nhằm đạt được những mục đích nhất định. Không có kỷ luật thì không thể điều chỉnh được mối quan hệ giữa người với người trong các hoạt động chung, trong quá trình sản xuất, hay trong mối quan hệ với cộng đồng. Nói cách khác, ky luật là nhu cầu tất yếu của các hoạt động chung, các hoạt động mang tính tập thể. Khi đã có các hoạt động chung, hoạt động tập thể thì tất yếu phải có kỷ luật.
Có như vậy, hoạt động tập thể này mới diễn ra ổn định và đạt được mục tiêu đã đề ra. Do đó, theo nghĩa rộng, kỷ luật còn được hiểu là "phương thức để thực hiện một trật tự xã hội nhất định" [58]. Ở góc độ này ky luật được hiểu gần như là đồng nghĩa với kỷ cương. Chính vì kỷ luật là yêu cầu khách quan, là phương tiện để thống nhất các hoạt động chung trong phạm vi mội tổ chức, một đơn vị thậm chí trong cộng đồng và xã hội nên tùy theo tính chất của các nhóm quan hệ xã hội cũng như yêu cầu mục đích của các hoạt động chung mà có nhiều loại kỷ luật khác nhau.
Có kỷ luật của các đảng phái, kỷ luật của các tổ chức xã hội, kỷ luật của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước, kỷ luật của lực lượng vũ trang và ký luật lao động của các đơn vị kinh tế. Như vậy, kỷ luật lao động chỉ là một trong những dạng của kỷ luật. Đó là kỷ luật trong lĩnh vực lao động. Nó được đặt ra để nhằm duy trì những hoạt động chung của những người lao động trong quá trình lao động.
Tuy nhiên, đây lại là dạng kỷ luật phổ biến bởi lao động hiểu theo nghĩa rộng cũng là hoạt động phổ biến của con người. Một khi đã tham gia vào các hoạt động lao động chung, tham gia vào quan hệ lao động, khi đó dù muốn hay không chúng ta cũng vẫn bắt buộc phải tuân thủ các quy định về ky luật lao động. Vay ky luật lao động là gì? Kỷ luật lao động bắt nguồn từ đâu? Ky luật lao động không phải là một thuật ngữ mới mẻ và cũng không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại. Càng không phải đến khi có các hoạt động sản xuất công nghiệp, có sự chuyên môn hóa mới có kỷ luật và cần đến kỷ luật.
Kỷ luật lao động xuất hiện từ rất sớm, từ khi con người biết lao động, có hoạt động chung với nhau. Bởi vậy, ngay từ thuở sơ khai ban đầu, con người đã không hoạt động lao động một cách đơn lẻ mà đã biết dựa vào nhau, liên 10 kết lai với nhau để cùng nhau thực hiện một công việc như cùng nhau săn bắn, hái lugm, cùng nhau chống chọi với thiên nhiên. Chính hoạt động lao động đó đã cải biến con người, biến con người từ sinh vật hoang dã trở thành sinh vật xã hội, có ý thức tham gia các hoạt động xã hội và hình thành nên xã hội. Song, những hoạt động lao động chung nay dù trong phạm vi hạn hẹp như trong phạm vi gia đình, bộ tộc cũng đã đòi hỏi phải tuân theo những quy tắc, những trật tự nhất định và những quy tắc, những trật tự chung đó chính là kỷ luật lao động.
Tuy nhiên, kỷ luật lao động thời kỳ này chủ yếu dựa trên nền tảng đạo đức, ý thức tự giác là chủ yếu, chưa có sự can thiệp của bất kỳ thế lực công quyền nào hoặc của giới nào. Song khi xã hội phát triển, người ta nhận thấy rằng phải liên kết hoạt động lao động với nhau ở phạm vi rộng hơn mới có thể nâng cao được hiệu quả của sản xuất. Bởi vậy, một số người nắm trong tay tư liệu sản xuất đã tiến hành thành lập các nhà máy, công xưởng, bến cảng nhằm huy động và sử dụng một số lượng lớn những người lao động. Do đó, môi trường lao động bây giờ không còn hạn hẹp với sự tham gia của một vài người hoặc một nhóm người lao động nữa mà có sự tham gia của hàng trăm, hàng ngàn người lao động và mang tính chất hiệp tác.
Các Mác đã nhận xét: "Nhiều người làm việc bên cạnh nhau một cách có kế hoạch và trong sự tác động qua lại lẫn nhau trong một quá trình sản xuất nào đó hoặc là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên hệ với nhau thì lao động của họ mang tính hiệp tac" [24, tr. Và ở đâu có sự hiệp tác thì ở đó cần có sự quản lý, cần có kỷ luật lao động. Điều này cũng là tất yếu bởi trong môi trường lao động chung này có sự tham gia của nhiều người khác nhau. Họ khác nhau về tính cách, về tâm sinh lý và thậm chí là cả mục đích, mong muốn khi tham gia vào quan hệ.
Hơn nữa hoạt động lao động của con người là hoạt động có mục đích, đòi hỏi phải có năng suất chất lượng và hiệu quả. Để làm được điều đó đòi hỏi những người tham gia lao động phải tuân theo những trật tự chung, những quy tắc chung nhất định. 11 Như vay, có thể thấy rang, dù xem xét dưới góc độ xã hội (vấn dé con người), góc độ kinh tế (năng suất chất lượng, hiệu quả) hay góc độ kỹ thuật (sự đa dạng hóa của hệ thống các ngành nghề) đều đòi hỏi phải thiết lập kỷ luật trong quá trình lao động. Đây đồng thời cũng được xem như là một nội dung thuộc quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động trong các đơn vị sử dụng lao động.
Để thực hiện quyền quản lý lao động, người sử dụng lao động có thể áp dụng nhiều biện pháp quản lý lao động khác nhau và một trong những biện pháp đó chính là thiết lập ky luật lao động đối với người lao động. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, kỷ luật lao động được hiểu là "chế độ làm việc đã được quy định và sự chấp hành nghiêm túc đúng đắn của mỗi cấp, mỗi nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động. Tạo ra sự hài hòa trong hoạt động của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất" [58]. Nhu vậy, dưới góc độ chung nhất (theo nghĩa rộng), kỷ luật lao động được hiểu là trật tự nên nếp mà người lao động phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng lao động, người sử dụng lao động có quyền thiết lập, duy trì ký luật lao động, có quyền quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với đơn vi; còn người lao động có nghĩa vu phải chấp hành. Trường hợp, người lao động không chấp hành hoặc không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ được giao, họ sẽ phải chịu hình thức xử lý kỷ luật tương ứng. Pháp luật cho phép người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật đối với người lao động trong những trường hợp này. Vì vậy, dưới góc độ pháp lý với tư cách là chế định của Luật Lao động, kỷ luật lao động được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng như các biện pháp xứ lý đối với những người không chấp hành hoặc không chấp hành day đủ trách nhiệm, nghĩa vụ đó.
12 Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đưa ra khái niệm về kỷ luật lao động. Đó là những "quy định về việc tuân theo thời gian công nghệ, điều hành sản xuất kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động của đơn vi" (Điều 82 Bộ luật Lao động). Cụ thể hóa Điều 82 Bộ luật Lao động Điều 3 Nghị định 41/CP ngày 6/7/1995 quy định: Kỷ luật lao động theo khoản 1 Điều 82 của Bộ luật Lao động bao gồm những quy định về: 1. Chấp hành thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; 2.
Chấp hành mệnh lệnh điều hành sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động; 3. Chấp hành quy trình công nghệ, các quy định về nội quy an toàn lao động và vệ sinh lao động; 4. Bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ, kinh doanh thuộc phạm vi trách nhiệm được giao. Như vậy, theo pháp luật lao động Việt Nam, kỷ luật lao động gồm bốn nhóm chính.
Đó là nhóm kỷ luật về thời gian, kỷ luật về điều hành, kỷ luật về công nghệ và bảo an, kỷ luật về bảo mật và tài sản. Những nhóm kỷ luật này chủ yếu chỉ xoay quanh quan hệ lao động va sự ổn định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, cũng có thể hiểu rằng khái niệm về kỷ luật lao động theo Điều 82 của Bộ luật Lao động là kỷ luật lao động trong phạm vi của doanh nghiệp và là khái niệm kỷ luật lao động theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng ky luật lao động khác với kỷ luật của các tổ chức, đảng phái.