MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Trong những năm vừa qua, toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phải trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, gắn liền với những biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế toàn cầu. Trong giai đoạn 2010 - 2015, ngành ngân hàng Việt Nam đã phải đối mặt với những diễn biến phức tạp sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng trong những năm trước, đó là: chạy đua lãi suất huy động, tình trạng thiếu thanh khoản và nợ xấu tăng cao. Các ngân hàng thương mại phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn, một số ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thanh khoản, mặt bằng lãi suất ở mức cao, cạnh tranh huy động vốn trên thị trường diễn ra gay gắt, niềm tin vào hệ thống có giai đoạn đứng trước nguy cơ đổ vỡ, nợ xấu tiếp tục có chiều hướng gia tăng.
Đây chính là bối cảnh để NHNN ban hành Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015” theo Quyết định 254/QĐ - TTg ngày 01/03/2012, với trọng tâm là ổn định thanh khoản và xử lý nợ xấu. Trong giai đoạn 2016 - 2020, NHNN đã ban hành Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020” theo Quyết định 1058/QĐ - TTg ngày 19/07/2017. Các nhiệm vụ trọng tâm của các NHTM theo Đề án này là: đẩy mạnh xử lý nợ xấu, nâng cao năng lực quản trị - điều hành, tăng tỷ trọng thu dịch vụ phi tín dụng, tăng cường tính minh bạch và lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng. Đến hết năm 2020, hầu hết các NHTM đã triển khai xong trụ cột 2 của Basel II với việc các ngân hàng đã đáp ứng được đầy đủ các nội dung quy định của Thông tư 41/2016/TT-NHNN và Thông tư 13/2018/TT- NHNN.
Việc triển khai áp dụng Basel II theo lộ trình cụ thể đã tạo cơ sở cho các NHTM hoạt động vừa có hiệu quả vừa bảo đảm an toàn theo thông lệ quốc tế. Hiện nay, lĩnh vực tài chính - tiền tệ được dự báo sẽ còn biến động phức tạp trong giai đoạn 2022 - 2030. Đại dịch Covid-19 xuất hiện đã làm thay đổi thói quen TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 2 sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân, từ “trực tiếp” sang “trực tuyến”. Đại dịch Covid-19, trong bối cảnh sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0, đã thúc đẩy các NHTM có những hành động quyết liệt để hướng tới chuyển đổi số và phát triển ngân hàng số.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển các sản phẩm dịch vụ tiện ích, các nguy cơ mất an toàn khi giao dịch cũng gia tăng. Ngân hàng TMCP Bắc Á là một ngân hàng có quy vốn và tổng tài sản nhỏ. Từ khi thành lập vào ngày 17/09/1994 với vốn điều lệ ban đầu chỉ 20 tỷ đồng, Ngân hàng đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và phải đối mặt với vô vàn khó khăn và thách thức. Tuy nhiên, Ngân hàng đã tìm được hướng đi riêng là “ưu tiên tư vấn đầu tư và cấp tín dụng cho các đối tượng khách hàng hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và an sinh xã hội như nông - lâm - ngư nghiệp, dược liệu sạch, y tế và giáo dục”.
Ngân hàng cũng đã phát triển được những sản phẩm dịch vụ đặc thù và có một phân khúc khách hàng riêng. Mặc dù, BAC A BANK đã đạt được nhiều thành tựu trong hoạt động kinh doanh cũng như đóng góp cho sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội, nhưng hiệu quả hoạt động kinh doanh chưa cao và chưa thực sự bền vững. Các chỉ tiêu sinh lời của Ngân hàng luôn ở mức thấp trong khi hiệu quả sử dụng chi phí có xu hướng giảm khi so sánh với các ngân hàng khác. Cụ thể, các chỉ tiêu ROE, ROA, NIM, NOM của Ngân hàng tại 31/12/2021 chỉ đạt lần lượt là 8,3%; 0,6%; 2,0%; 0,3% (trong khi mức trung bình của 22 NHTMCP được nghiên cứu lần lượt là 18,5%; 1,6%; 4,0%; 1,1%) và hiệu quả quản trị chi phí hoạt động của Ngân hàng chỉ đạt 55,3% (trong khi mức trung bình của 22 NHTMCP được nghiên cứu là gần 96%).
Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội tại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức và trong bối cảnh toàn hệ thống ngân hàng đang tiếp tục thực hiện tái cơ cấu một cách mạnh mẽ nhằm hướng tới sự hiệu quả và phát triển bền vững thì việc nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của BAC A BANK có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Cho đến nay chưa có một nghiên cứu khoa học nào, nhất là ở cấp bậc một luận án tiến sĩ liên quan đến vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 3 TMCP Bắc Á. Xuất phát từ tình hình nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Bắc Á” làm đề tài nghiên cứu Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng. Việc nghiên cứu này là một yêu cầu cấp thiết vì nó sẽ cung cấp hệ thống lý luận có tính khoa học về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM làm cơ sở để đánh giá một cách toàn diện, khách quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong giai đoạn 2010 - 2021, cũng như đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong những năm tới, từ đó giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án 2. Các nghiên cứu tiêu biểu quốc tế Để phân tích, đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh doanh chính của các NHTM, các học giả quốc tế cũng thường sử dụng các bộ chỉ tiêu tài chính có liên quan. Các nghiên cứu liên quan có thể kể đến là: Tại Australia, trong nghiên cứu “Capital management in mutual financial institutions”, Christine Brown và Kevin Davis (2008) đã nghiên cứu về hiệu quả quản lý vốn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Australia giai đoạn 1991 - 2004. Các tác giả đi đến kết luận rằng, tỷ lệ an toàn vốn càng cao cho thấy sự lành mạnh trong kinh doanh của các ngân hàng càng lớn, Tỷ suất sinh lời trên tài sản càng cao cho thấy khả năng tài chính của các ngân hàng càng tốt, quản lý vốn hiệu quả sẽ làm cho hiệu quả của hoạt động kinh doanh cao hơn, dẫn đến khả năng tài chính phát triển tốt hơn.
Tại Nam Phi, Mabwe K. (2010) đã nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Nam Phi trước và sau khủng hoảng (giai đoạn 2005 - 2009) trong nghiên cứu “A financial Ratio Analysis of Commercial Bank Performance in South Africa”. Các tác giả đã thực hiện đánh giá về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thông qua 07 chỉ tiêu tài chính (ROA, ROE, Chi phí/Thu nhập; Tài sản thanh khoản/Tiền gửi khách hàng và vay ngắn hạn; Cho vay/Tổng tài sản; Cho vay/Tổng tiền gửi và vay ngắn hạn; DPRR/Cho vay). Nghiên TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 cứu này đã chỉ ra rằng có sự sụt giảm đáng kể về hiệu quả hoạt động kinh doanh khi xảy ra khủng hoảng.
Một số nghiên cứu quốc tế lại sử dụng các mô hình phân tích (như CAMELS) để phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM một cách tổng quát. Các nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến là: Tại Lithuania, Podviezko. và Ginevičius, R. (2010) đã làm nghiên cứu “Economic Criteria Characterising Bank Soundness and Stability”.
Các tác giả đã sử dụng 06 nhóm chỉ số theo CAMELS để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Lithuania gồm có: (1) Chỉ số an toàn vốn (Capital adequacy); (2) Chất lượng tài sản (Asset quality); (3) Quản trị (Management); (4) Khả năng sinh lời (Earnings); (5) Tính thanh khoản (Liquidity); (6) Độ nhạy với rủi ro thị trường (Sensitivity to market risk). Các tác giả đã đi đến kết luận rằng các yếu tố định lượng đóng vai trò rất quan trọng trong đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Đồng thời, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh sự phát triển ổn định và coi đó như một chỉ số đánh giá sự hiệu quả của một ngân hàng. Trong nghiên cứu “Global Financial Institutions Rating Criteria” được thực hiện bởi Lee, J.
và các cộng sự (2012), các tác giả đã đề cập đến 05 nhóm chỉ tiêu có thể dùng để xếp hạng, cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động của các TCTD gồm có: (1) Nhóm 05 chỉ tiêu đánh giá tính thanh khoản; (2) Nhóm 11 chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng; (3) Nhóm 07 chỉ tiêu đánh giá cấu trúc vốn; (4) Nhóm 14 chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận; (5) Nhóm 06 chỉ tiêu đánh giá về lãi suất. Hầu hết các chỉ tiêu này được đưa ra dựa trên CAMELS nhưng có bổ sung thêm thông tin xếp hạng của Fitch để đánh giá hiệu quả hoạt động của các TCTD. Các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu mang tính định lượng như SFA hay DEA để kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Một số nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như sau: Tại Latvia, nghiên cứu “Measuring Bank Efficiency: DEA application” của Jelena Titkoa và các cộng sự (2014) đã sử dụng mô hình DEA theo giả định hiệu TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 5 quả thay đổi theo quy mô (VRS) (với các yếu tố đầu vào gồm: Tiền gửi khách hàng; Tiền gửi của TCTD; Chi phí lãi vay và các yếu tố đầu ra gồm: Cho vay; Lợi nhuận hoạt động; Chứng khoán; Thu nhập lãi; NIM; Thu nhập hoa hồng) được đặt trong 14 mô hình để đo lường hiệu quả của các ngân hàng tại Latvia.
Các tác giả cũng áp dụng thử nghiệm Kolmogorov - Smirnov để tìm hiểu tác động của các yếu tố (Tiền gửi; Các khoản cho vay; Số dư các ngân hàng; Chứng khoán; NIM) đối với thước đo hiệu quả hoạt động. Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận là các biến số khác nhau nên được sử dụng làm đầu ra trong mô hình DEA để đo lường hiệu quả của các ngân hàng Latvia tùy thuộc vào điều kiện khác nhau; tiền gửi và các khoản cho vay không thể được sử dụng làm biến số chính trong mô hình DEA để đo lường hiệu quả của các ngân hàng Latvia do không có tác động đáng kể.