CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính nhận tiền gửi và cho vay tiền trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn. Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng thặng dư vốn với khách hàng thâm hụt vốn.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 của Chính phủ nêu rõ: “Tổ chức tín dụng là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Luật Tổ chức tín dụng cũng chỉ rõ: “Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động của ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, ngân hàng thương mại chỉ là một khối nhỏ trong số các tổ chức tín dụng trung gian, được gọi chung là “các định chế tài chính” có chức năng dẫn vốn từ nơi có nguồn vốn thừa đến nơi có nguồn vốn thiếu.
Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động tạo lập nguồn vốn Tạo lập nguồn vốn là hoạt động tạo nên các nguồn vốn của NHTM bao gồm hoạt động tạo lập vốn tự có và hoạt động huy động vốn. Hoạt động tạo lập vốn tự có Vốn tự có là nguồn vốn bắt buộc khi thành lập, có tính ổn định và lâu dài, thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn tự có của ngân hàng gồm vốn điều lệ và vốn tự có bổ sung.
Trong đó: Vốn điều lệ: “Là vốn ban đầu được hình thành khi thành lập doanh nghiệp; Nhà nước cấp nếu là NHTM Nhà nước (doanh nghiệp Nhà nước), 9 hoặc là cổ đông đóng góp khi là NHTM cổ phần. Vốn điều lệ phụ thuộc vào quy mô kinh doanh và do luật định”. Vốn bổ sung: “Là bộ phận vốn tự có tăng thêm trong quá trình hoạt động, bằng cách trích từ lợi nhuận kinh doanh, các quỹ dự trữ, lãi không chia cho các cổ phiếu hay tăng mức đóng góp của các cổ đông”. Vốn tự có chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng.
Vốn tự có được coi là tài sản đảm bảo tạo lòng tin đối với khách hàng, công chúng và các cổ đông. Do tính chất thường xuyên và ổn định nên ngân hàng có thể chủ động sử dụng vốn tự có cho các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, tạo nên TSCĐ cho ngân hàng, phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản của NHTM, thể hiện khả năng thu hút vốn của ngân hàng. Hiện nay, nguồn vốn huy động chiếm tỷ lệ lớn nhất và ngày càng cao trong tổng số nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn bao gồm: - Nhận tiền gửi: Các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội gửi tiền tại ngân hàng nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn và mong muốn thu được phần lãi. Tiền gửi tại NHTM bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. Mỗi loại tiền gửi có những đặc điểm riêng về kỳ hạn, kỳ trả lãi, lãi suất, cơ chế giao dịch. - Phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM phát hành kỳ phiếu và trái phiếu, đặc điểm là có kỳ hạn và lãi suất hay khoản lãi được hưởng khi đáo hạn thanh toán được ghi ngay trên bề mặt của kỳ phiếu hay trái phiếu.
Do hoạt động cạnh tranh và đảm bảo lợi ích cho khách hàng có tiền gửi, khách hàng rút vốn trước hạn đều được các NHTM Việt Nam trả lãi không kỳ hạn. 10 - Vay vốn từ các TCTD khác và NHTW Vay từ các TCTD khác: Trong quá trình hoạt động, NHTM có thể thiếu vốn tạm thời, khi đó NHTM có thể vay vốn từ các TCTD khác, phổ biến là thông qua thị trường liên ngân hàng (thị trường 2). Thông qua thị trường 2, NHTM thiếu vốn được đáp ứng với thời gian ngắn, lãi suất hợp lý được thỏa thuận giữa hai bên và tuân thủ quy định của NHTW. Sự góp mặt của thị trường 2 đã góp phần giúp cho các ngân hàng tham gia luôn đảm bảo khả năng thanh khoản mà không nhất thiết phải bán các tài sản khác.
Vay từ NHTW: Với vai trò là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW có thể cho các NHTM vay vốn khi cần thiết thông qua các hình thức như: chiết khấu, tái chiết khấu, tái cấp vốn…, giúp các NHTM bù đắp thiếu hụt, tạo sự cân đối nguồn vốn trong quá trình hoạt động. - Hoạt động tạo lập vốn khác: Trong quá trình hoạt động, NHTM còn có thể tạo lập vốn từ các hoạt động khác như hoạt động thanh toán, hoạt động ủy thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ hoặc của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho các chương trình dự án. Hoạt động sử dụng vốn NHTM sử dụng các nguồn vốn tạo lập được trong quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng thông qua các hoạt động như: hoạt động ngân quỹ, hoạt động tín dụng và hoạt động đầu tư. - Hoạt động ngân quỹ: Hoạt động này phản ánh phần vốn của ngân hàng được dùng vào mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán, thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do NHNN đề ra.
Ngân quỹ là tài sản có tính thanh khoản cao và tính sinh lời thấp, chủ yếu đáp ứng chi trả thường xuyên của ngân hàng. Để hoạt động ngân quỹ hiệu quả, NHTM cần đưa ra chiến lược đáp ứng tốt nhất 11 nhu cầu thanh khoản của ngân hàng, yêu cầu dự trữ sơ cấp và quy định của NHNN. - Hoạt động tín dụng: Tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở hoàn trả gốc và lãi sau một khoảng thời gian. Hoạt động tín dụng của NHTM giải quyết được việc đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời của khách hàng.
Khi đó, NHTM được hưởng lợi là phần lãi mà khách hàng cần phải trả sau một thời gian sử dụng vốn. Hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu lớn nhất cho ngân hàng và cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. - Hoạt động đầu tư: NHTM sử dụng nguồn vốn của mình cho các hoạt động đầu tư tài chính như góp vốn liên doanh, kinh doanh ngoại hối và đầu tư chứng khoán…Các hoạt động này giúp ngân hàng có thể sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động, thu được nguồn lợi nhuận cao, ổn định và giúp ngân hàng đa dạng hóa danh mục đầu tư. Hoạt động dịch vụ Hoạt động dịch vụ ngân hàng rất đa dạng, bao gồm: cung ứng các phương tiện thanh toán trong nước và quốc tế, dịch vụ thu hộ, chi hộ và thực hiện các dịch vụ thanh toán khác do Pháp luật quy định.
Hiện nay, các NHTM đang có xu hướng gia tăng tỷ trọng thu nhập về dịch vụ trong tổng thu nhập của ngân hàng bằng cách chú trọng đầu tư công nghệ, xây dựng chương trình thiết kế sản phẩm và phát triển hệ thống khách hàng. Ngoài những hoạt động cơ bản trên, NHTM còn thực hiện các hoạt động khác như dịch vụ đại lý và ủy thác, dịch vụ cho thuê tủ két, bảo quản hiện vật quý và giấy tờ có giá, dịch vụ chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn tài chính. Tổng quan về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Quá trình kinh doanh của ngân hàng bao gồm các hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ như: thanh toán, nhận tiền gửi, bảo hiểm, mua bán ngoại tệ… và chủ yếu là bán quyền sử dụng vốn với lãi suất nhất định để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
Bên cạnh đó, đứng trên góc độ vĩ mô thì các hoạt động của ngân hàng còn làm tăng thu cho ngân sách nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tái phân phối lợi tức trong phạm vi toàn xã hội. Do đó, khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thì cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất. - Xét trên góc độ của ngân hàng thì hiệu quả kinh doanh tốt có nghĩa là việc sử dụng các nguồn lực của ngân hàng phù hợp, nâng cao được năng lực cạnh tranh và lợi nhuận của ngân hàng. - Xét trên góc độ của khách hàng thì hiệu quả kinh doanh tốt là sự phù hợp của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng với nhu cầu, mục đích sử dụng của khách hàng, tối đa hóa mức độ hài lòng của khách hàng.
- Xét trên góc độ kinh tế - xã hội thì hiệu quả kinh doanh tốt phải đảm bảo lưu thông hàng hóa – tiền tệ thông suốt, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết tốt vấn đề việc làm. Kế thừa các quan điểm về hiệu quả kinh doanh của các nghiên cứu trước đây, tác giả cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu về kinh tế và xã hội của ngân hàng thương mại”. Các nguồn lực của ngân hàng thương mại bao gồm nguồn nhân lực, tài lực, vật lực và tiền vốn. Mục tiêu về kinh tế được thể hiện thông qua lợi nhuận của ngân hàng.
13 Như vậy, nếu xem xét hiệu quả kinh doanh theo quan điểm trên thì cần phân biệt rõ ràng hiệu quả xã hội với hiệu quả kinh tế của ngân hàng thương mại: Hiệu quả kinh tế của ngân hàng thương mại là giá trị lợi ích kinh tế mà ngân hàng thương mại đạt được sau một quá trình hoạt động. Kết quả được thể hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng như lợi nhuận, năng suất lao động hay thị phần và cũng có thể được thể hiện thông qua các chỉ tiêu định tính như uy tín của ngân hàng thương mại, chất lượng sản phẩm… Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định.