CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN dụng ngắn hạn, dài hạn), chính sách thanh toán tiền hàng (chiết khấu thanh toán), với khả năng quản lý nợ cũng như năng lực tài chính của khách hàng. Về hàng tồn kho: Để đảm bảo quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục, không bị gián đoạn, đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được lượng hàng tồn kho dự trữ hợp lý, đáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục, vừa không gia tăng chi phí tồn khô gây ứ đọng vốn. Lượng dự trữ hợp lý phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó chủ yếu là quy mô sản xuất, tiêu thụ, vào mức độ chuyên hóa, hệ thống cung cấp,… Về TSCĐ: Tỷ trọng TSCĐ trước hết phụ thuộc vào ngành nghề và lĩnh vựa kinh doanh. Bên cạnh đó, còn phụ thuộc vào chính sách đầu tư, vào chu kỳ kinh doanh và phương pháp khấu hao doanh nghiệp áp dụng.
Trong giai đoạn mới đầu tư, tỷ trọng này thường lớn do lượng vốn đầu tư lớn và mức khấu hao chưa nhiều. Một số giá trị bình quân khoản mục tài sản và tổng tài sản: Tài sản cuối kỳ + Tài sản đẩu kỳ Tài sản bình quân = 2 Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn cuối kỳ + Tài sản ngắn hạn đẩu kỳ = bình quân 2 Phải thu cuối kỳ + Phải thu đầu kỳ Phải thu bình quân = 2 Hàng tồn kho Hàng tồn kho cuối kỳ + Hàng tồn kho đầu kỳ bình quân = 2 Tài sản dài hạn Tài sản dài hạn cuối kỳ + Tài sản dài hạn đầu kỳ = bình quân 2 Nguyên giá TSCĐ Nguyên giá TSCĐ cuối kỳ + Nguyên giá TSCĐ đầu kỳ bình quân = 2 SVTH: LÊ THỊ THU ANH - D16CQKT01-N 12 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN Nguồn vốn Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng giống như phân tích cơ cấu tài sản. Tiến hành tính toán và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng nguồn vốn cũng như biến động tăng giảm theo thời gian của từng bộ phận và tổng nguồn vốn. Các chỉ tiêu được xác định theo các công thức sau: Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn = *100 chiếm trong tổng nguồn vốn (%) Tổng số nguồn vốn Biến động theo thời gian từng Giá trị từng bộ phận nguồn vốn (tổng nguồn vốn) = cuối kỳ - Giá trị từng bộ phận nguồn vốn (tổng bộ phận (tổng nguồn vốn) nguồn vốn) đầu kỳ Tốc độ tăng trưởng (tỷ lệ biến Biến động theo thời gian từng bộ phận động) của từng bộ phận nguồn = *100 Giá trị từng bộ phận tài sản đầu kỳ vốn (tổng nguồn vốn) (%) Bằng việc phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản lý thấy được những đặc trưng trong cơ cấu huy động vốn của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý và an toàn của của việc huy động vốn và đồng thời quyết định huy động nguồn vốn nào với mức độ bao nhiêu là hợp lý, đảm bảo hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Một số giá trị bình quân khoản mục nguồn vốn: Nợ phải trả cuối kỳ + Nợ phải trả đầu kỳ Nợ phải trả bình quân = 2 Vốn chủ sở hữu cuối kỳ + Vốn chủ sở hữu đầu kỳ Vốn chủ sở hữu bình quân = 2 Nguồn vốn cuối kỳ + Nguồn vốn đầu kỳ Nguồn vốn bình quân = 2 SVTH: LÊ THỊ THU ANH - D16CQKT01-N 13 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn Để phân tích mối quan hệ đó, nhà phân tích thường tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau: Hệ số nợ so với tài sản: Nợ phải trả Hệ số nợ so với tài sản = Tài sản Chỉ tiêu này phản ảnh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ. Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về tài chính càng thấp. Khi trị số này bằng 1: toàn bộ nợ phải trả của doanh nghiệp được sử dụng để tài trợ toàn bộ tài sản dùng cho hoạt động. Khi trị số này lớn hơn 1: số nợ phải trả được doanh nghiệp sử dụng vừa để bù lỗ vừa để tài trợ tài sản của mình.
Trị số này càng lớn bao nhiêu thì chứng tỏ số lỗ lũy kế càng lớn bấy nhiêu. Khi trị số này càng nhỏ hơn 1 bao nhiêu thì số nợ phải trả được doanh nghiệp sử dụng để tài trợ tài sản càng giảm bấy nhiêu. Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá chính sách sử dụng vốn và được xác định: Tổng tài sản Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng nợ phải trả Trị số này bằng 1: toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bàng nợ phải trả và khi đó vốn chủ sở hữu bằng không. Trị số này lớn hơn 1: doanh nghiệp dùng cả nợ phải trả và vốn chủ sở hữu để tài trợ tài sản Trị số này nhỏ hơn 1: doanh nghiệp đang trong tình trạng thua lỗ, số lỗ lũy kế lớn hơn toàn bộ vốn chủ sở hữu, làm vốn chủ sở hữu bị “âm”.
Lúc này doanh nghiệp buộc phải sử dụng khoản nợ phải trả để vừa bù lỗ vừa tài trợ tài sản của mình. SVTH: LÊ THỊ THU ANH - D16CQKT01-N 14 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu: Là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu. Hệ số tài sản so với Tài sản vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng cả vốn chủ sở hữu và nợ phải trả để tài trợ tài san. Trị số này nhỏ hơn 0 thì nợ phải trả được doanh nghiệp sử dụng vừa để bù lỗ vửa để trang trải tài sản cho hoạt động Phân tích cấu trúc tài sản, nguồn vốn cũng nhưng mối quan hệ giữa chúng chính là đi phân tích tình hình sử dụng vốn, huy động vốn và mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Qua đó giúp các nhà quản lý nắm được tình hình phân bố tài sản và các nguồn tài trợ tài sản, biết được nguyên nhân cũng như các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tài chính. Đảm bảo cho doanh nghiệp có được một cấu trúc tài chính lành mạnh, hiệu quả và tránh được những rủi ro trong kinh doanh. Phân tích khả năng thanh toán Hệ số khả năng toán nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn Hệ số khả năng toán nợ ngắn hạn = Nợ ngắn hạn Hệ số này cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này đo lường khả năng trả nợ.
Nếu hệ số này giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm, đó là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Nếu hệ số này cao, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn. Hệ số khả năng thanh toán nhanh bình thường Hệ số khả năng thanh toán Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho = nhanh bình thường Nợ ngắn hạn SVTH: LÊ THỊ THU ANH - D16CQKT01-N 15 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN Đây là chỉ số đo lường khả năng doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn.
Nói chung thì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt. Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng không luôn là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào tài sản ngắn hạn quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao. Hệ số khả năng thanh toán nhanh trong 3 tháng Hệ số khả năng thanh toán Tiền và các khoản tương đương tiền = nhanh trong 3 tháng Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cao, kéo dài chứng tỏ khả năng thanh toán tốt, tuy nhiên nếu quá cao có thể dẫn đến hiệu quả vốn giảm. Chỉ tiêu này quá thấp kéo dài chứng tỏ doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện.
Ta có thể tham khảo hệ số (k) như sau: k < 0,5: Thấp 0,5 ≤ k ≤ 0,75: Trung bình k >1: Cao Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Tổng tài sản Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng nợ phải trả Như đã phân tích trong mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thì đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có khả năng thanh toán được bao nhiêu lần nợ phải trả bằng tổng tài sản. SVTH: LÊ THỊ THU ANH - D16CQKT01-N 16 KHÓA LUẬN TN ĐẠI HỌC CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn: Hệ số khả năng thanh toán Tài sản dài hạn = nợ dài hạn Nợ dài hạn Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo hạn trên 1 năm, doanh nghiệp đi vay dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định. Nguồn để trả nợ dài hạn chính là tổng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành từ vốn vay chưa được thu hồi.
Vì vậy, người ta thường so sánh giá trị còn lại của tài sản cố định hình thành từ vốn vay với số dư dài hạn để xác định khả năng thanh toán nợ dài hạn. Chỉ tiêu này càng cao khả năng thanh toán nợ dài hạn của doanh nghiệp càng tốt, góp phần vào ổn định tình hình tài chính. Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh qua phân tích một số chỉ tiêu quan trọng Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm biết được hiệu quả kinh doanh đang ở mức độ nào, tốc độ phát triển của từng khía cạnh và nhưng nhân tố ảnh hưởng.