Khóa luận một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần du lịch dịch vụ hải phòng

Khóa luận phân tích biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho công ty cổ phần du lịch dịch vụ Hải Phòng, hướng đến phát triển bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

94
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

1.2. Các nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp

1.2.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

1.2.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

1.3. Nội dung phân tích hoạt động SXKD

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH DỊCH VỤ HẢI PHÒNG

2.1. Một số nét khái quát về Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng

2.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của công ty

2.3. Cơ cấu tổ chức

2.4. Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

2.4.1. Phân tích chung hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

2.4.2. Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp

2.4.2.1. Phân tích chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận
2.4.2.2. Phân tích chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng chi phí
2.4.2.3. Phân tích chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng lao động
2.4.2.4. Phân tích chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn
2.4.2.5. Phân tích chỉ tiêu về tài chính căn bản

2.4.3. Đánh giá chung

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH DỊCH VỤ HẢI PHÒNG

3.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới

3.2. Phương hướng

3.3. Giải pháp 1: Thanh lý hàng tồn kho để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

3.4. Giải pháp 2: Tăng cường nâng cao chất lượng lao động của Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng

3.5. Kiến nghị với Công ty

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

LỜI CẢM ƠN

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Hải Phòng

Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong bối cảnh thị trường du lịch ngày càng cạnh tranh, việc tối ưu hóa quy trình kinh doanh là điều cần thiết. Nâng cao hiệu quả không chỉ giúp tăng trưởng doanh thu mà còn cải thiện chất lượng dịch vụ, từ đó thu hút khách hàng hơn.

1.1. Tình hình hiện tại của Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng

Công ty đã có những bước phát triển đáng kể trong những năm qua. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Việc phân tích các chỉ tiêu tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh là rất quan trọng để xác định điểm mạnh và điểm yếu của công ty.

1.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh

Nâng cao hiệu quả kinh doanh không chỉ giúp công ty tồn tại mà còn phát triển bền vững. Điều này có thể đạt được thông qua việc cải thiện quy trình làm việc, tối ưu hóa chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ.

II. Những thách thức trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh

Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các yếu tố như cạnh tranh gay gắt, thay đổi nhu cầu của khách hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đều ảnh hưởng đến hoạt động của công ty.

2.1. Cạnh tranh trong ngành du lịch

Sự gia tăng số lượng công ty du lịch và dịch vụ tại Hải Phòng đã tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Công ty cần có chiến lược marketing hiệu quả để nổi bật giữa đám đông.

2.2. Thay đổi nhu cầu của khách hàng

Khách hàng ngày càng có yêu cầu cao hơn về chất lượng dịch vụ. Công ty cần phải nắm bắt xu hướng và điều chỉnh dịch vụ của mình để đáp ứng nhu cầu này.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Hải Phòng

Để nâng cao hiệu quả kinh doanh, Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện quy trình làm việc mà còn tối ưu hóa chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ.

3.1. Tối ưu hóa quy trình kinh doanh

Việc cải tiến quy trình làm việc sẽ giúp công ty tiết kiệm thời gian và chi phí. Cần thực hiện phân tích quy trình hiện tại để tìm ra những điểm cần cải thiện.

3.2. Đào tạo nhân viên

Đào tạo nhân viên là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ. Nhân viên được đào tạo bài bản sẽ mang lại trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Việc áp dụng các phương pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh đã mang lại những kết quả tích cực cho Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng. Các chỉ tiêu tài chính đã có sự cải thiện rõ rệt, đồng thời chất lượng dịch vụ cũng được nâng cao.

4.1. Kết quả tài chính sau khi áp dụng phương pháp

Sau khi thực hiện các biện pháp nâng cao hiệu quả, doanh thu của công ty đã tăng lên đáng kể. Các chỉ tiêu lợi nhuận cũng có sự cải thiện rõ rệt.

4.2. Phản hồi từ khách hàng

Khách hàng đã có những phản hồi tích cực về chất lượng dịch vụ. Điều này cho thấy công ty đang đi đúng hướng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.

V. Kết luận và tương lai của Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng

Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hải Phòng cần tiếp tục duy trì và phát triển các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tương lai của công ty phụ thuộc vào khả năng thích ứng với thị trường và nhu cầu của khách hàng.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Công ty cần xác định rõ định hướng phát triển trong tương lai, từ đó xây dựng các chiến lược phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh.

5.2. Tầm nhìn dài hạn

Tầm nhìn dài hạn sẽ giúp công ty không chỉ tồn tại mà còn phát triển bền vững trong ngành du lịch. Việc đầu tư vào công nghệ và chất lượng dịch vụ là rất cần thiết.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Khái quát về hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường dù là hình thức sở hữu nào (Doanh nghiệp Nhà Nước, Doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn) thì đều có các mục tiêu hoạt động sản xuất khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoạn, các doanh nghiệp cũng theo đuổi các mục tiêu khác nhau, nhưng nhìn chung mọi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường đều nhằm mục tiêu lâu dài, mục tiêu bao trùm đó là làm sao tối đa hóa lợi nhuận.

Để đạt được các mục tiêu đó thì các doanh nghiệp phải xây dựng được cho mình một chiến lược kinh doanh đúng đắn, xây dựng các kế hoạch thực hiện và đặt ra các mục tiêu chi tiết nhưng phải phù hợp với thực tế, đồng thời phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp và lấy đó làm cơ sở để huy động và sử dụng các nguồn lực sau đó tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Trong điều kiện nền sản xuất kinh doanh chưa phát triền, thông tin cho quản lý chưa nhiều, chưa phức tạp thì hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ là quá trình sản xuất các sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu của xã hội sau đó là sự lưu thông trao đổi kinh doanh các mặt hàng do các doanh nghiệp sản xuất ra. Khi nền kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý nền kinh tế quốc dân không ngừng tăng lên. Quá trình đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển.

Các Mác đã ghi rõ: “Nếu một hình thái vận động là do một hình thái khác vận động khác phát triển lên thì những phản ánh của nó, tức là những ngành khoa học khác nhau cũng phải từ một ngành này phát triển ra thành một ngành khác một cách tất yếu”. Sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đã làm tăng thêm lực lượng sản xuất xã hội, nảy sinh nền sản xuất hàng hóa. Quá trình sản xuất bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Chuyên môn hóa đã tạo sự cần thiết phải trao đổi sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng.

Sự trao đổi này bắt đầu với tính chất ngẫu nhiên, hiện vật dần dần phát triển mở rộng cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, khi tiền tệ ra đời làm cho quá trình trao đổi sản phẩm mang hình thái mới là lưu thông hàng hóa với các hoạt động mua và bán và đây là những hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. 2 Thông thường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều có định hướng, có kế hoạch. Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi. Để đạt được kết quả cao nhất trong sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp cần xác định phương hướng mục tiêu trong đầu tư, có kế hoạch sử dụng các điều kiện sẵn có về nguồn nhân tài, vật lực.

Muốn vậy các doanh nghiệp cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở của quá trình phân tích kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Nhắc đến hiệu quả hoạt động SXKD trong doanh nghiệp, chắc hẳn sẽ có nhiều ý kiến cho rằng đây là hoạt động kinh doanh có lãi. Tuy nhiên, cách nhìn này chỉ là sự tổng kết về kết quả cuối cùng của một chu kì kinh doanh.

Vì vậy, để hiểu rõ bản chất của hiệu quả chúng ta cần phân biệt được khái niệm hiệu quả và kết quả hoạt động SXKD. Hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả tương ứng với nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện một hoạt động nhất định. Kết quả thường được biểu hiện bằng giá trị tổng sản lượng, doanh thu hoặc lợi nhuận. Yếu tố đầu vào bao gồm lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn.

Quan điểm này cho thấy hiệu quả hoạt động SXKD phải dựa vào cả đầu vào và đầu ra, đó là khi doanh nghiệp mang về được nhiều doanh thu hơn chi phí bỏ ra, nó phản ánh trình độ khai thác nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh. Tóm lại, hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất, mức chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Hiệu quả hoạt động SXKD không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà 𝐊 còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. 𝐂 Công thức xác định: H = Trong đó:  H là hiệu quả hoạt động SXKD  K là kết quả thu về từ hoạt động SXKD  C là chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó 3 1.

Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả hoạt động SXKD là vấn đề cốt lõi cả về lý luận lẫn thực tiễn, là mục tiêu trước mắt, lâu dài và bao trùm doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động SXKD là phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả trực tiếp và gián tiếp mà các chủ thể kinh tế thu được so với các chi phí trực tiếp và gián tiếp mà cá chủ thể kinh tế phải bỏ ra để đạt được kết quả đó. Kết quả hoạt động SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau môt quá trình nhất định, nó có thể là đại lượng cân đong đo đếm được như: số lượng sản phẩm xuất ra, số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, chi phí…và cũng có thể là các đại lượng phản ánh mặt chất lượng (định tính) như: uy tín, thương hiệu doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm… Như vậy kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp. Xét về hình thức, hiệu quả hoạt động SXKD luôn là một phạm trù so sánh, thể hiện mối tương quan giữa cái bỏ ra với cái thu được, còn kết quả kinh doanh chỉ là yếu tố và là phương tiện để tính toán và phân tích hiệu quả.

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và đối phó với tình trạng nguồn lực tài nguyên ngày càng khan hiếm đòi hỏi các doanh nghiệp phải khai thác và sự dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả. Xét đến cùng thì bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD là nâng cao năng suất lao động xã hội, đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội. Về mặt chất, hiệu quả hoạt động SXKD phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong một doanh nghiệp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa kết quả thực hiện và những mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị, xã hội.

Về mặt lượng, hiệu quả hoạt động SXKD biểu hiện mối tương quan giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra. Doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi kết quả lớn hơn chi phí. Hiệu quả hoạt động SXKD được đo lường bằng một hệ thống chỉ tiêu nhất định. Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh Để tiến hành bất kỳ hoạt động SXKD nào con người cũng cần phải kết hợp yếu tố con người và yếu tố vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với ý đồ trong chiến lược và kế hoạch SXKD của mình trên cơ sở nguồn lực sẵn có.

Để thực hiện điều đó bộ phận quản trị doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụ trong đó công cụ hiệu quả hoạt động SXKD. Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động SXKD không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra các nhân tố để đưa ra các 4 biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả. Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào, do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả hoạt động SXKD đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Với vai trò là phương diện đánh giá và phân tích kinh tế, hiệu quả hoạt động SXKD không chỉ được sử dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng đầu vào ở toàn bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như đánh giá được từng bộ phận của doanh nghiệp.

Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Sự cần thiết khách quan: Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lãi. Để đạt được kết quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần xác định phương hướng mục tiêu trong đầu tư. Muốn vậy cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh. Điều này chỉ thực hiện trên cơ sở phân tích kinh doanh thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, sự tích tụ cơ bản dẫn đến sự tích tụ sản xuất, các Công ty ra đời sản xuất phát triển cực kỳ nhanh chóng cả về quy mô lẫn hiệu quả, với sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt.

Để chiến thắng trong cạnh tranh, đảm bảo quản lý tốt các hoạt động của Công ty đề ra phương án giải pháp kinh doanh có hiệu quả, nhà tư bản nhận thông tin từ nhiều nguồn, nhiều loại và yêu cầu độ chính xác cao. Với đòi hỏi này công tác hạch toán không thể đáp ứng được vì vậy cần phải có môn khoa học phân tích kinh tế độc lập với nội dung phương pháp nghiên cứu phong phú.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ