CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm hiệu quả Liên quan đến khái niệm hiệu quả, có các cách tiếp cận khác nhau, cụ thể gồm hai cách tiếp cận sau: Thứ nhất, nếu tiếp cận theo phương pháp truyền thống có thể đưa ra khái niệm: Hiệu quả là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó của một chủ thể trong những điều kiện nhất định. Với khái niệm này, có thể nhận thấy rằng hiệu quả có thể được biểu diễn ở hai dạng khác nhau, bao gồm: dạng hiệu số và dạng thương số.
Như vậy, cách xác định hiệu quả này thì kết quả đạt được càng lớn hơn chi phí bỏ ra bao nhiêu thì hiệu quả càng cao bấy nhiêu. Tuy nhiên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, trong rất nhiều trường hợp, hiệu số của một chỉ tiêu kết quả và một chỉ tiêu chi phí sẽ là một chỉ tiêu kết quả khác. Như vậy, theo khái niệm truyền thống này, khái niệm hiệu quả và kết quả bị trùng lặp. Thứ hai, là cách tiếp cận khái niệm hiệu quả gắn với mục đích của chủ thể.
Với cách tiếp cận này, khái niệm hiệu quả được đề cập như sau: Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả nhằm đạt được một mục đích nào đó của chủ thể tương ứng với một đơn vị nguồn lực đã bỏ ra trong quá trình thực hiện hoạt động. Theo khái niệm hiệu quả nêu trên, hiệu quả của một hoạt động nào đó được gắn với một mục đích nhất định, trong đó mục tiêu cụ thể đã được xác định chính là mức độ thu lại kết quả. Như vậy, hiệu quả luôn gắn với mục tiêu nhất định, đồng nghĩa với việc không thể xác định hiệu quả của các hoạt động không có mục tiêu. Từ các cách tiếp cận khái niệm hiệu quả nêu trên, có thể rút ra kết luận liên quan đến bản chất của phạm trù hiệu quả như sau: về mặt hình thức, hiệu quả luôn là một phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí phải bỏ ra và kết quả thu về được sau quá trình hoạt động.
Như vậy, có thể thấy sự khác biệt giữa hai khái niệm kết quả và hiệu quả chính là: kết quả bao giờ cũng là mục tiêu cụ thể doanh Luan van 7 nghiệp muốn đạt đến, trong khi đó, hiệu quả phải là sự so sánh tương quan giữa hai chỉ tiêu phản ánh kết quả thu được (đầu ra) và chi phí hoặc yếu tố bỏ ra (nguồn lực đầu vào) nhằm đánh giá trình độ sử dụng chi phí hoặc yếu tố đầu vào. Để có thể nhận thức rõ hơn về phạm trù hiệu quả, cần tìm hiểu các dạng biểu hiện khác nhau của phạm trù hiệu quả. Mỗi dạng biểu hiện của hiệu quả có những đặc trưng, ý nghĩa khác nhau là cơ sở để xác định mức hiệu quả, xác định các chỉ tiêu hiệu quả và những biện pháp nâng cao hiệu quả. Có các cách phân loại hiệu quả sau: - Theo mục tiêu của chủ thể, hiệu quả được phân thành: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
+ Hiệu quả kinh tế là hiệu quả mà chủ thể thu được khi sử dụng nguồn lực đầu vào để thực hiện các mục tiêu kinh tế nhất định. Hiệu quả kinh tế mô tả mối quan hệ kinh tế giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận được và nguồn lực đã bỏ ra (chi phí hoặc yếu tố đầu vào) để nhận được lợi ích kinh tế đó. + Hiệu quả xã hội là các mục tiêu xã hội đạt được khi chủ thể tiến hành các hoạt động kinh tế. - Theo phạm vi tính toán, hiệu quả bao gồm: hiệu quả nền sản xuất xã hội và hiệu quả cá biệt.
+ Xét về phạm vi tính toán hiệu quả trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động của từng doanh nghiệp + Hiệu quả nền sản xuất xã hội là hiệu quả thu được xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - Theo tính chất tác động, hiệu quả gồm có: hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp: + Hiệu quả trực tiếp là hiệu quả có được từ chính tác động của chủ thể đến kết quả hoạt động khi thực hiện các mục tiêu chủ thể đề ra. + Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả có được do một đối tượng nào đó tác động làm thay đổi kết quả hoạt động của chủ thể. - Theo phương thức xác định, hiệu quả được phân thành: hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối.
+ Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được đo bằng hiệu số giữa kết quả đầu ra và nguồn lực đầu vào. Luan van 8 + Hiệu quả tương đối là hiệu quả được đo bằng tỷ số giữa kết quả đầu ra và nguồn lực đầu vào. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề đã được các nhà kinh tế học trên thế giới bắt đầu nghiên cứu từ thế kỷ XVIII, đặc biệt nó được tập trung nghiên cứu từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX. Các nhà khoa học, nhà quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh luôn quan tâm nghiên cứu các vấn đề cụ thể như: Hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào được coi là có hiệu quả? Làm thế nào để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp? Hiệu quả kinh doanh biểu hiện cụ thể như thế nào? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp?… Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hoá, có liên quan trực tiếp với các phạm trù và các quy luật kinh tế khác.
Hiệu quả kinh doanh được coi là tiêu chuẩn, là thước đo của mọi hoạt động trong doanh nghiệp. Hiện nay khi đề cập đến vấn đề hiệu quả kinh doanh, vẫn còn khá nhiều các quan điểm khác nhau. Mỗi một quan điểm đều đưa ra những đánh giá nhất định về hiệu quả kinh doanh, tuy nhiên để có thể lựa chọn một quan điểm đầy đủ nhất để vận dụng trong luận văn, tác giả đã hệ thống các quan điểm về hiệu quả kinh doanh theo một số trường phái chủ yếu sau: - Quan điểm thứ nhất: Quan điểm này bắt đầu phát triển từ giữa thế kỷ 18 bởi nhà kinh tế học người Anh – Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả chính là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Quan điểm này đã có sự đồng nhất chỉ tiêu hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh, do đó việc đánh giá hiệu quả kinh doanh thực chất chỉ là đánh giá kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh mà không quan tâm đến giá trị đầu tư để đạt được kết quả đó là bao nhiêu.
Rõ ràng đánh giá hiệu quả kinh doanh qua kết quả sản xuất kinh doanh theo trường phái quan điểm trên là chưa hoàn toàn hợp lý. Đôi khi, kết quả sản xuất kinh doanh có thể phản ánh một phần hiệu quả đạt được của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, kết quả sản xuất kinh doanh không cố định mà có thể thay đổi do thay đổi chi phí đầu tư hoặc thay đổi việc sử dụng các nguồn lực. Hơn thế nữa, nếu Luan van 9 cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng ta lại có cùng một mức độ hiệu quả, nhưng thực tế khi kết quả như nhau thì năm nào có chi phí thấp hơn hiệu quả sẽ được đánh giá cao hơn.
Do đó, nếu đánh giá hiệu quả kinh doanh theo quan điểm này thì sẽ không thể phân biệt được kỳ kinh doanh nào có hiệu quả hơn. - Quan điểm thứ hai: Quan điểm của hai nhà kinh tế học hiện đại nổi tiếng – Paul Samuelson và William D’Nordhau với quan điểm được trình bày trong cuốn “Kinh tế học” xuất bản vào những năm 80 của thế kỷ XX: “Hiệu quả kinh doanh là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người. Quan điểm này cho thấy, muốn xác định hiệu quả kinh doanh thì cần phải đánh giá sự tiết kiệm hay lãng phí các nguồn lực sử dụng trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và việc đánh giá này là hoàn toàn có thể xác định được. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nên sử dụng như thế nào để được xem là hữu hiệu nhất vẫn đang còn là một tiêu chuẩn mang tính chất trừu tượng, bản thân doanh nghiệp cũng rất khó lượng hóa được vì nó chỉ mới dừng lại ở khả năng vận dụng nguồn lực đầu vào chứ không đề cập đến các kết quả đầu ra và mối quan hệ vận động tương quan giữa chúng.
Như vậy, nếu vận dụng quan điểm này trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ không có một mức chuẩn cụ thể để đánh giá việc sử dụng nguồn lực hữu hiệu nhất phải bằng bao nhiêu. - Quan điểm thứ ba: Quan điểm này cho rằng hiệu quả kinh doanh là sự so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra và các chi phí đã phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ưu điểm của quan điểm này so với các quan điểm trước đó là đã đề cập đến bản chất của hiệu quả chính là trình độ sử dụng chi phí. Tuy nhiên, quan điểm này cũng mới chỉ đề cập đến chi phí thực tế phát sinh mà bỏ qua mối quan hệ giữa chi phí với nguồn lực của chi phí đó.
Rõ nét nhất có thể kể đến yếu tố chi phí về lao động, khi tính hiệu quả sử dụng lao động thì chi phí thực tế của nó là số ngày làm việc, số giờ làm việc, tiền lương (hoặc thù lao lao động)…, còn nguồn lực lại được biểu hiện qua số lượng lao động. Luan van 10 Có thể thấy rằng, trường phái này đã bỏ qua mối quan hệ nội tại của các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh khi đánh giá hiệu quả kinh doanh. Trong quá trình này, mỗi yếu tố không ngừng biến động, các yếu tố tăng thêm và các yếu tố sẵn có cùng thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, các yếu tố này trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên quá trình sản xuất kinh doanh và làm thay đổi kết quả kinh doanh.