CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm hiệu quả kinh doanh. Có nhiều cách hiểuhiệu quả kinh doanh khác nhau về khái niệm.
Có quan điểm cho rằng: Hiệu quả khi xã hộisản xuất diễn ra không thể tăng sản lượng của một lượnglượng hàng hoákhông cắt giảm sản mà của một loại hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của nó.Thực chất quan điểm khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lựcnày đã đề cập tới của nền sản xuất xã hội. Trên góc độ này rõ ràng lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đườngphân bổ các nguồn giới hạn khả có hiệu quả và rõnăng sản xuất làm cho nền kinh tế ràng xét trên phương diện lý thuyết thì kinh tế có thể đạt được trên giới hạnđây là mức hiệu quả cao nhất mà mỗi của doanh nghiệp nền năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Một số nhà quản trị học lại được xác định bởi tỷ sốquan niệm hiệu quả kinh doanh giữa kết quả đạt được và để đạt được kết quả đóchi phí phải bỏ ra.
Manfred Kuhn cho rằng: Tính hiệu cách lấy kết quả tính theo đơn vị quả được xác định bằng giá trị chia cho chi phí kinh doanh. Quan điểm khác nữa lại cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó chiếm hữu nô lệ đến xã hộixuất hiện và tồn tại từ xã hội xã hội chủ nghĩa. Hiệu quả trình độ sử dụng các yếu tốkinh doanh thể hiện cần thiết tham gia vào theo mục đíchhoạt động sản xuất kinh doanh nhất định. Trong những hình thì bản chấtthái xã hội có quan hệ sản xuất khác nhau của phạm trù hiệu quả và hiệu quả vận động theo nhữngnhững yếu tố hợp thành phạm trù khuynh hướng khác nhau.
Trong xã hội tư bản, về tư liệu sản xuất vàgiai cấp tư sản nắm quyền sở hữu do vậy, chính trịquyền lợi về kinh tế. đều dành cho nhà tư bản. Chính vì thế quả kinh doanh thực chất làviệc phấn đấu tăng hiệu đem lại lợi nhuận nhiều hơn nữa cho thu nhập cho họnhà tư bản nhằm nâng cao, trong khi thu nhập của người lao độnglại có thể thấp hơn nữa. Do vậy, việc tăng sản phẩmchất lượng không phải là người tiêu dùngđể phục vụ trực tiếp mà để thu hút khách hàng nhằm và qua đó thu đượcbán được càng nhiều hơn có lợi nhuận lớn hơn.
Sinh viên: Hoàng Thùy Linh – QT1501N 3 Khóa Luận Tốt Nghiệp Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Trong xã hội chủ nghĩa, phạm trù hiệu quả vốn kinh doanh tồn tại vì sản phẩm sản xuất kinh doanh ra vẫn là hàng hoá. Do các tài sản hữu củađều thuộc quyền sở Nhà nước, toàn dân và tập thể, hơn nữa hội chủ nghĩa mục đích của nền sản xuất xã cũng khác của nền sản xuất tư bảnmục đích chủ nghĩa. Mục đích đáp ứng đủ nhu cầuxã hộcủa nền sản xuất chủ nghĩa là ngày càng tăng của trong xã hội nênmọi thành viên bản chất quả của phạm trù hiệu cũng khác với tư bản xã hội chủ nghĩa. Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hiểu như thế nào về hiệu quả kinh doanh.
- Nhà kinh tế học Adam Smith thì cho rằng: Hiệu quả là kết quả trong hoạt động kinh tếđược, là doanh thu của tiêu thụ hàng hoá. Như vậy, hiệu quảđồng kết quả hoạt độngnghĩa với chỉ tiêu phản ánh kinh doanh, có thể do nguồn lực sảntăng chi phí mở rộng sử dụng. Nếu có hai mức chi phí khác nhaucùng một kết quả thì doanh nghiệptheo quan điểm này cũng đạt hiệu quả. - Quan điểm nữa cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là so sánh tỷ lệ tương đối giữa kết quả và chi phí kết quả đóđể đạt được.Ưu điểm là phản ánh được mối quan hệcủa quan điểm này bản chất của hiệu quả kinh tế.Tuy nhiênđược tương chưa biểu hiện quan chất giữa kết quảvề lượng và và chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ được của mối liên hệ này.
- Quan điểm khác nữa lại cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là mãn yêu cầu của quymức độ thoả luật kinh tế cơ bản củacho rằng quỹ chủ nghĩa xã hội tiêu dùng chỉ tiêu đại diệnvới ý nghĩa là cho mức sống của mọi người trong các là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanhdoanh nghiệp. Quan điểm này là đãcó ưu điểm bám sát mục tiêu của nền sản xuất là đời sống vật chất và tinh thần không ngừng nâng cao cho người dân. Nhưng khó khăn ở đây làthể hiện tư tưởng phương tiện để đo lường định hướng đó. Từ các quan điểm nêu trên ta có thể hiểu một cách khái quát thế nào là hiệu quả kinh doanh đó là phạm trù phản ánh trình độcác nguồn lực bị lợi dụng (nhân tài, vật lực, tiền vốn.) để đạt được mục tiêu xác định.Trình độ lợi dụng các nguồn lực trong mối quan hệ chỉ có thể được đánh giá với kết quả tạo ra để xem xét xem xác định có thểvới mỗi sự hao phí nguồn lực tạo ra ở mức độ nào.Vì vậy, ta có thể mô tảcác công thức hiệu quả kinh doanh bằng chung nhất sau đây: Sinh viên: Hoàng Thùy Linh – QT1501N 4 Khóa Luận Tốt Nghiệp Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Kết quả đầu ra Hiệu quả = Nguồn lực đầu vào gắn với kết quả đó Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tếtheo khái niệm rộng phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh.
Như vậy,ta cần phân định sự khác nhau và quan trọngmối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả. Bất kỳ con người nói chunghành động nào của và trong kinh doanh nói riêng đều mong muốnđược những kết quả hữu ích đạt cụ thể nào đó, kết quả đạt được mà cụ thể là trong kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông mới được phần nàochỉ đáp ứng tiêu dùng của cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, kết quả đó mức độđược tạo ra ở nào, với giá xét vì nó phản ánh chất lượngnào là vấn đề cần xem của hoạt động tạo ra kết quả. Mặt khác con người bao giờ cũng nhu cầu tiêu dùng của có xu hướng lớn hơn khả được nhiềunăng tạo ra sản phẩm nhất.
Vì vậy đánh giá chất lượngnên khi đánh giá hoạt động kinh doanh tức là của hoạt độngtạo ra kết quả mà kinh doanh nó có được. Như vậy, hiệu quảđại lượng kinh doanh là một so sánh: So sánh giữa đầu vào với đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra với kết quả kinh doanh ta thu được. Đứng trên xã hộigóc độ, chi phí xem xét xã hộiphải là chi phí, do có của các yếu tốsự kết hợp lao động, tư đối tượng lao động theo liệu lao động và một tương quan và chất trongcả về lượng quá trình kinh doanh để tạo rađủ tiêu chuẩn cho sản phẩm tiêu dùng. Tóm lại, hiệu mặt chất lượng các hoạt độngquả kinh doanh phản ánh kinh doanh, trình độ nguồn lực sản xuất của doanh nghiệptrong quá trình kinh doanh trong sự vận động không ngừng của sản xuất kinh doanhcác quá trình, không phụ thuộc động vào tốc độ biến của từng nhân tố.
Phân loại hiệu quả kinh doanh 1. Căn cứ vào đối tượng cần đánh giá hiệu quả - Hiệu quả kinh tế cá biệt: thể hiện lợi ích mà doanh nghiệp thu đượckết quả kinh doanh cũng như từ hoạt động kinh doanh. Đó có thể làlợi nhuận cũng có thể là doanh thu mà doanh nghiệp đã thu về. - Hiệu quả kinh tế - xã hội: thể hiện sự tăng trưởngsự đóng góp của doanh nghiệp vào và phát triển bền vững trong của nền kinh tế như tạotăng nguồn thu ngân sách việc làm, nâng cao đời sống tinh thần người dân… Sinh viên: Hoàng Thùy Linh – QT1501N 5 Khóa Luận Tốt Nghiệp Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền kinh tế, mọi hoạt động kinh doanh đều chịu ảnh hưởngcủa doanh nghiệp bởi xu hướng vận động của nền kinh tế.
Do đó hiệu quả kinh tế cá biệt có mối quan và hiệu quả kinh tế - xã hội hệ khăng khít, ảnh hưởng lẫn nhau. Hiệu quả kinh tế cá biệt sẽ ảnh hưởng đếncủa doanh nghiệp hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả kinh tế - xã hộicơ sở hiệu quả chỉ đạt được trên kinh tế cá biệt. Việc phân loại trên quan điểm toàn diện khi đánh giáđòi hỏi doanh nghiệp phải có hiệu quả kinh tế thương mại.Trong kinh doanh, doanh nghiệp không nên chỉ tính đến mà bỏ qua lợi ích của riêng doanh nghiệp các lợi ích kinh tế - xã hội. Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả: hiệu quả chi phí bộ phận và hiệu quả chi phí tổng hợp.
Hoạt động gắn liền với môi trường kinh doanhcủa bất kỳ doanh nghiệp nào cũng của nó nhằm giải quyết trong kinh doanhnhững vấn đề then chốt như: donha nghiệp kinh doanh cái gì, doanh nghiệp kinh doanh cho ai,kinh doanh như thế nào và sẽ chi phí bao nhiêu. Mỗi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh của mình tiến hành trong những điều kiện riêng vềtrình độ trang thiết bị kỹ thuật tài nguyên,quản lý lao động trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh Paul Samuelson gọi đó là hộpđen kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Bằng khả năng cung ứng cho xã hộicủa mình họ những sản phẩm nhất địnhvới chi phí cá biệt và nhà kinh doanh nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá với số lượng nhiều nhấtcủa mình. Tuy nhiên, thị trường hoạt động mọi doanh nghiệp khi tham giatheo quy luật riêng của nó và vào thị trường là phải chấp nhận luậtchơiđó.
Một trong những tác động rõ nét nhất đến quy luật thị trường các chủ là quythể của nền kinh tế luật giá trị. Thị trườngmức hao phí trung bình xã hội chỉ chấp nhận cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá sản phẩm. Quy luật giá trị đã với mức chi phí cá biệtđặt tất cả các doanh nghiệp khác nhau trên một mặt bằng trao đổi chung, và đó là giá cả thị trường. Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội, nhưng đối với mỗi doanh nghiệp mà ta đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thì chi phí lao động xã hội đó lại được thể hiện dưới các dạng chi phí khác nhau: giá thành sản xuất, chi phí sản xuất.Bản thân mỗi loại chi phí này lại một cánh tỷ mỷđược phân chia hơn.