Chương 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ TÌM HIỂU VÀ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) và DN kiểm toán vừa và nhỏ 1. Tổng quan về DNVVN Hiện nay chưa có một khái niệm chung về loại hình DNVVN mà tùy thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế để đưa ra những quy định về DNVVN. Khi định nghĩa về DNVVN, các quốc gia thường căn cứ vào quy mô về vốn của DN, số lao động thường xuyên, tổng doanh thu, tổng tài sản của DN… Nhìn chung, mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức hay có cách kết hợp các tiêu thức khác nhau để đưa ra định nghĩa riêng về DNVVN.
Trên thế giới Theo cách hiểu thông thường, DNVVN là những DN có quy mô nhỏ về mặt vốn, lao động và doanh thu; cách phân loại DN cũng khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Có quốc gia phân loại thành bốn (4) loại DN như: DN nhỏ, DN vừa, DN lớn và DN cực lớn. Có quốc gia phân loại DN thành năm loại DN như: DN siêu nhỏ, DN nhỏ, DN vừa, DN lớn và DN cực lớn. - Theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới: DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới mười (10) lao động, tổng tài sản dưới mười ngàn (10.000) USD và tổng doanh thu hàng năm dưới một trăm ngàn (100.000) USD; DN nhỏ là DN có số lượng lao động từ mười (10) đến dưới năm mươi (50) lao động, tổng tài sản và tổng doanh thu hàng năm dưới ba (3) triệu USD; DN vừa là DN có số lượng lao động từ năm mươi (50) đến dưới ba trăm (300) lao động, tổng tài sản và tổng doanh thu hàng năm dưới mười lăm (15) triệu USD.
- Tại Trung Quốc: Tiêu chuẩn chung của DNVVN là DN có số lượng lao động dưới hai ngàn (2.000) người hay doanh thu hàng năm không quá ba trăm (300) triệu Nhân dân tệ hay tổng tài sản không quá bốn trăm (400) triệu Nhân dân tệ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Tuy nhiên, đối với mỗi ngành nghề cụ thể khác nhau thì tiêu chí không hoàn toàn giống nhau.1: TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI DNVVN THEO TỪNG NGÀNH NGHỀ TẠI TRUNG QUỐC Ngành nghề Tiêu chí Đơn vị tính DN vừa DN nhỏ Số lao động Người 300 – 2.000 < 300 Sản xuất Doanh thu Triệu Nhân dân tệ 30 – 300 < 30 Tổng tài sản Triệu Nhân dân tệ 40 – 400 < 40 Số lao động Người 600 – 3.000 < 600 Xây dựng Doanh thu Triệu Nhân dân tệ 30 – 400 < 30 Tổng tài sản Triệu Nhân dân tệ 40 – 400 < 40 Số lao động Người 100 – 200 < 100 Thương mại Doanh thu Triệu Nhân dân tệ 30 – 300 < 30 (Bán buôn) Tổng tài sản Triệu Nhân dân tệ 1–5 <1 Thương mại Số lao động Người 3.000 (Bán lẻ) Doanh thu Triệu Nhân dân tệ 10 – 150 < 10 Số lao động Người 500 – 3.000 < 500 Vận chuyển Doanh thu Triệu Nhân dân tệ 30 – 300 < 30 Nhà hàng và Số lao động Người 400 – 800 < 400 khách sạn Doanh thu Triệu Nhân dân tệ 30 – 150 < 30 Nguồn: The New Tentative Classification Standards on the SMEs, National Bureau of Statistics of PRC (2003). - Tại Thái Lan: Theo quy định của Bộ Công Nghiệp được ban hành vào ngày 11 tháng 09 năm 2002, tiêu chí để phân loại DNVVN là số lượng lao động làm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 việc toàn thời gian hay giá trị của tài sản cố định (không bao gồm giá trị đất đai).2: TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI DNVVN THEO TỪNG NGÀNH NGHỀ TẠI THÁI LAN Lao động (số người) Tài sản cố định (triệu baht) Ngành nghề DN nhỏ DN vừa DN nhỏ DN vừa Sản xuất < = 50 51 – 200 < = 50 51 – 200 Dịch vụ < = 50 51 – 200 < = 50 51 – 200 Thương mại (bán buôn) < = 25 26 – 50 < = 50 51 – 100 Thương mại (bán lẻ) < = 15 16 – 30 < = 30 31 – 60 Nguồn: http://www.org/thai/thai98.htm Bên cạnh các tiêu thức định lượng được các quốc gia xác định như trên, các tổ chức kế toán và kiểm toán quốc tế cũng đưa ra các tiêu chuẩn về DNVVN, cụ thể: - Ủy ban quốc tế về chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB) với mục đích hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực kiểm toán tại DNVVN đã nêu lên những đặc điểm của DNVVN như sau: Phạm vi hoạt động hẹp, chỉ kinh doanh một số mặt hàng nhất định nên không thể chi phối thị trường hàng hóa; Chủ DNVVN thường là một hoặc một vài cá nhân; Tổ chức bộ máy kế toán đơn giản (chỉ có một hoặc một vài nhân viên). - Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã định nghĩa DNVVN là DN mà: Không kinh doanh một số ngành nghề sau: tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… Không có trách nhiệm báo cáo cho công chúng nhưng phải báo cáo cho người sử dụng bên ngoài.
Tại Việt Nam Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 06 năm 2009, DNVVN được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba (3) cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm, cụ thể như sau: Bảng 1.3: TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI DNVVN THEO TỪNG NGÀNH NGHỀ TẠI VIỆT NAM DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Tổng Tổng Ngành nghề Số lao Số lao Số lao nguồn nguồn động động động vốn (tỷ vốn (tỷ (người) (người) (người) đồng) đồng) Nông, lâm nghiệp và thủy sản < 10 < 20 >10-200 >20-100 >200-300 Công nghiệp và xây dựng < 10 < 20 >10-200 >20-100 >200-300 Thương mại, dịch vụ < 10 < 10 >10-50 >10-50 >50-100 Định nghĩa về DNVVN theo Nghị định 56 được sử dụng để thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp cho sự phát triển của các DNVVN. Tổng quan về DN kiểm toán vừa và nhỏ Định nghĩa về DNVVN của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng được áp dụng cho tất cả các loại hình kinh doanh. Do đó, không có những tiêu chí riêng biệt để phân loại DNVVN cho DN kiểm toán. Để phân loại DN kiểm toán theo quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa cần sử dụng các tiêu chí chung như nguồn vốn, số lao động, giá trị tài sản cố định hay doanh thu hàng năm.
Tuy nhiên, khi áp dụng các tiêu chí này để phân loại thì phát sinh một số bất cập, chẳng hạn: khi áp dụng tiêu chí chung về nguồn vốn, DN kiểm toán vừa là DN có mức vốn trên mười (10) tỷ đồng, DN kiểm toán nhỏ là DN có mức vốn dưới mười (10) tỷ đồng; điều này không phù hợp với thực tế vì DN kiểm toán không cần đầu tư quá nhiều tài sản. Khi áp dụng tiêu chí số lao động bình quân năm, DN kiểm toán vừa là DN có số lao động bình quân hàng năm là từ năm mươi đến một trăm (50 – 100) người, DN kiểm toán nhỏ là DN có số lao động bình quân hàng năm là từ mười đến năm mươi (10 – 50) người; điều này cũng không phù hợp với thực tế, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 vì DN kiểm toán là DN sử dụng chủ yếu chất xám nên số lượng lao động không cần quá nhiều như những DN sản xuất. Do khó khăn trong việc sử dụng tiêu chí để phân loại DN kiểm toán vừa và nhỏ, nên trong các báo cáo của VACPA về tình hình hoạt động của các DN kiểm toán hàng năm để trình lên Bộ Tài chính thì tiêu chí để phân loại các DN kiểm toán thường dựa vào số lượng KTV và doanh thu. Điều này được minh họa qua bảng tổng hợp số liệu từ báo cáo tổng kết hoạt động năm 2011 và năm 2012 của VACPA, cụ thể: Bảng 1.4: TỔNG HỢP SỐ LIỆU BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG NĂM 2011, NĂM 2012 CỦA VACPA Năm 2011 Năm 2012 Số Số Doanh thu Số Số Doanh thu lượng lượng (triệu đồng) lượng lượng (triệu đồng) Chỉ tiêu công KTV công KTV ty ty Nhóm công ty từ mười (10) KTV trở lên, chi tiết: Từ hai mươi (20) KTV 13 583 2.069,92 trở lên Từ mười (10) đến dưới 30 374 534.128,40 hai mươi (20) KTV Nhóm công ty dưới mười (10) KTV, chi tiết: Từ bảy (7) đến dưới 16 125 109.636,10 Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2011 và năm 2012 của các công ty kiểm toán.
Qua bảng tổng hợp số liệu trên, nhận thấy khoảng cách về số lượng KTV và doanh thu giữa các nhóm công ty là rất lớn, đặc biệt là các công ty kiểm toán thuộc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhóm công ty có số lượng KTV từ hai mươi (20) người trở lên (E&Y, KPMG, PWC và Deloitle). Vì vậy, theo quan điểm của người viết, để phân loại quy mô của DN kiểm toán, cần kết hợp các tiêu chí như sau: số lượng KTV đang hành nghề và doanh thu. Trong phần khảo sát thực trạng được trình bày tại chương 2 của luận văn, người viết đã dựa vào tiêu chí số lượng KTV đã đăng ký hành nghề tại các DN kiểm toán và doanh thu hàng năm để phân loại quy mô DN kiểm toán. Vì lý do đội ngũ KTV là tài sản quý giá nhất và là yếu tố cơ bản nhất để tạo ra giá trị của các DN kiểm toán.
Theo đó, DN kiểm toán vừa là DN có số lượng KTV đã đăng ký hành nghề từ 10 người trở lên và doanh thu hàng năm đạt khoảng10 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng (ngoại trừ E&Y, KPMG, PWC và Deloitle); DN kiểm toán nhỏ là DN có số lượng KTV đã đăng ký hành nghề dưới 10 người và doanh thu hàng năm dưới 10 tỷ đồng. Tổng quan về hệ thống KSNB 1. Khái niệm KSNB Năm 1992, Ủy Ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về BCTC (COSO) đã phát hành báo cáo dưới tiêu đề Kiểm soát nội bộ - Khuôn mẫu hợp nhất. Báo cáo COSO 1992 đã được chấp nhận rộng rãi và được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới, nó được công nhận là khuôn mẫu hàng đầu cho việc xây dựng, vận hành, quản lý KSNB và đánh giá sự hữu hiệu của KSNB.