phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng của Ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động tín dụng của chi nhánh Ngân hàng TMCP VPBank Bắc Giang. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần VPbank Bắc Giang đến 2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Vì vậy, NHTM là tổ chức tài chính quan trọng nhất cảu nền kinh tế.
Nghiệp vụ kinh doanh của NHTM rất phong phú, đa dạng. Cùng với sự phát triển của khách hàng, khoa học công nghệ và sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động của NHTM cũng luôn luôn đổi mới phương pháp nghiệp vụ nhưng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tư. Qua ngân hàng thương mại các chính sách tài chính tiền tệ của quốc gia sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng và cũng nhờ nó mà việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng luật pháp được dễ dàng hơn. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội.
Trong cơ chế thị trường, các NHTM và các tổ chức tín dụng cũng là các doanh nghiệp nhưng chúng là những doanh nghiệp đặc thù vì tài sản trong quá trình kinh doanh của ngân hàng thương mại đều phụ thuộc vào khách hàng. Khái niệm Ngân hàng thương mại được tiếp cận trên nhiều phương diện. Căn cứ vào các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại, Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Căn cứ vào các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, có thể định nghĩa: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Phân loại ngân hàng thương mại * Căn cứ vào hình thức sở hữu Theo cách phân loại ngân hàng thương mại dựa trên hình thức sở hữu có: Ngân hàng sở hữu tư nhân, ngân hàng sở hữu của các cổ đông (ngân hàng cổ phần), ngân hàng sở hữu nhà nước, ngân hàng liên doanh. - Ngân hàng sở hữu tư nhân: Là ngân hàng do cá thể thành lập bằng vốn của cá nhân.
Loại ngân hàng này thường nhỏ, phạm vi hoạt động thường là trong từng địa phương và thường gắn liền với doanh nghiệp và cá nhân ở địa phương. - Ngân hàng sở hữu của các cổ đông: Được thành lập thông qua phát hành (bán) cổ phiếu, việc nắm giữ các cổ phiếu cho phép người sở hữu quyền tham gia quyết định các hoạt động của ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập của ngân hàng đồng thời phải chịu tổn thất có thể xảy ra. Do vốn sở hữu được hình thành thông qua tập trung, các Ngân hàng cổ phần có khả năng tăng vốn nhanh chóng vì vậy thường là các Ngân hàng lớn và có phạm vi hoạt động rộng, đa năng, có nhiều chi nhánh hoặc công ty con. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 - Ngân hàng sở hữu nhà nước: Là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nước cấp, có thể là nhà nước Trung ương hoặc tỉnh, thành phố.
Các ngân hàng này được thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhất định, thường là do chính sách của chính quyền Trung ương hoặc địa phương quy định. - Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng loại này được hình thành dựa trên trên vốn góp của hai hay nhiều bên, thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế của nhau. * Phân loại ngân hàng dựa theo tính chất hoạt động Dựa vào tính chất hoạt động có: ngân hàng chuyên doanh và đa năng, ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ. - Thứ nhất, ngân hàng chuyên doanh và đa năng Ngân hàng chuyên doanh là loại ngân hàng chỉ tập trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng, như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với nông nghiệp, hoặc chỉ cho vay.
Tính chuyên môn hóa cao cho phép ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ, tuy vậy loại ngân hàng này thường gặp rủi ro rất lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt động mà ngân hàng phục vụ sa sút. Ngân hàng đa năng là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho mọi đối tượng, đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương mại, ngân hàng đa năng thường là ngân hàng lớn. Tính đa dạng sẽ làm ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi ro. - Thứ hai, ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ: Ngân hàng bán buôn là ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho NH, các công ty tài chính, cho nhà nước, cho doanh nghiệp lớn… Ngân hàng bán buôn thường là những ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp các tài khoản tín dụng lớn.
Ngân hàng bán lẻ thường cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân các khoản tín dụng nhỏ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Vai trò của Ngân hàng thương mại Trong sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, Ngân hàng là một yếu tố không thể thiếu bởi các vai trờ cơ bản sau: là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán. * Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn). Các cá nhân và tổ chức thặng dư tạm thời trong chi tiêu (tức là thu nhập hiên tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm). Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với Ngân hàng, và điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi. Khi đó sẽ hình thành nên mối quan hệ tài chính, mà có thể là quan hệ trực tiếp dưới hình thức tín dụng hoặc quan hệ cấp phát, hùn vốn và cũng có thể là quan hệ gián tiếp nếu trong quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian.
Với quan hệ gián tiếp đòi hỏi có sự tham gia của các trung gian tài chính mà với sự chuyên môn hóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm từ đó mà khuyến khích được tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư và cũng khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp những người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn của quan hệ tài chính trực tiếp. Đồng thời do sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin thường được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường và Ngân hàng có năng lực để làm giảm đến mức thấp nhất những sai lệch đó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 * Tạo phương tiện thanh toán Tiền-Vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, song khi nền sản xuất phát triển cao hơn, lượng phân phối qua lại ngày càng nhiều thì trong thanh toán bằng tiền mặt, vàng gặp nhiều khó khăn và Ngân hàng đã tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ cho khách hàng, và với những ưu điểm nhất định nó đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận.
Ngoài ra giấy nhận nợ đó còn được thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy. Ngày nay giấy nhận nợ đã được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như: Séc, kỳ phiếu. đã giúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh gọn và có hiệu quả hơn. * Trung gian thanh toán: Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia.
Thay mặt cho khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng Séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu. Cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán, công nghệ thanh toán qua Ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng.