phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: ực tiễn về hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Vĩnh Phúc Chƣơng 4: Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Vĩnh Phúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Định nghĩa ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại là một trong các ngành công nghiệp ra đời sớm nhất. Ở Mỹ NHTM đầu tiên được thành lập năm 1782, trước khi Hiến pháp liên bang được thông qua và nhiều NHTM được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt động.
Ở mỗi một nước, luật NHTM có quy định khác nhau, người ta thường dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của Ngân hàng trên thị trường tài chính để đưa ra cách hiểu về Ngân hàng thương mại. Ở Pháp, theo luật ngân hàng hàng năm 1941 thì "được coi Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ và các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính". Hay như ở Ấn Độ, luật ngân hàng năm 1950 và được bổ sung năm 1959 đã nêu: "Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ, đầu tư" Và theo luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hàng nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm.” Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra các khái niệm về ngân hàng thương mại. Có khái niệm đưa ra thông qua chức năng, hoạt động, thông qua các dịch vụ hoặc có khái niệm thông qua vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế.
Đặc trưng của các ngân hàng thương mại so với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 các tổ chức tài chính khác là chuyên về nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Bất kỳ ngân hàng thương mại hay tổ chức tài chính nào đều hoạt động trong phạm vi pháp luật cho phép và đều hoạt động dựa trên cơ sở sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Cách tiếp cận có tính logic hơn là xem xét ngân hàng thương mại trên phương diện những loại hình dịch vụ cung cấp. Theo đó, Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam ban hành năm 2010 (Quốc hội, 2010) đã định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Và: “Ngân hàng loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Và vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của luật tổ chức tín dụng của Việt Nam ban hành 1998 về ngân hàng để làm cơ sở cho các phân tích kế tiếp. Chức năng của ngân hàng thƣơng mại Tầm quan trọng của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chức năng của nó. Các nhà kinh tế học đã ví ngân hàng thương mại là trái tim của nền kinh tế.
Ngân hàng hút tiền về, bơm tiền đi vì thế các nguồn vốn nhàn rỗi được khơi thông đưa tiền từ nơi thừa đến nơi thiếu, giúp cho quá trình lưu chuyển tiền tệ một cách hiệu quả. Các chức năng của ngân hàng thương mại có thể được nêu ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng bao gồm ba chức năng chủ yếu: chức năng trung gian tài chính, trung gian thanh toán, chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Chức năng trung gian tài chính Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng Thương mại và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Thực hiện chức năng trung gian tài chính, ngân hàng là “cầu nối” giữa cung và cầu vốn trong đó có nhu cầu về vốn Thứ nhất: NHTM huy động các khoản tiền nhàn rỗi của các chủ thể kinh tế trong xã hội, từ các doanh nghiệp, hộ gia đình, cơ quan Nhà nước, NH Trung ương, NHTM và các tổ chức tín dụng khác để hình thành nguồn vốn đầu tư, cho vay trong nền kinh tế.
Thứ hai: NHTM dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay đối với chủ thể kinh tế thiếu vốn - có nhu cầu bổ sung vốn, gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc hoặc tài khoản thanh toán tại NH Trung ương, NHTM hoặc các TCTD khác. Như vậy, NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Ngày nay, quan niệm trung gian tín dụng trở nên biến hoá hơn. Sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện các khía cạnh khác của chức năng này.
Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa công ty (khi phát hành cổ phiếu) với những nhà đầu tư: Chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua bán trái phiếu công ty. Theo cách này Ngân hàng làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường. Chức năng trung gian thanh toán NHTM làm trung gian thanh toán trên cơ sở những hoạt động đi vay để cho vay.Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền để NH thực hiện chức năng này. Mặc khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế như không an toàn, chi phí lớn… đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua NH.
Khi làm trung gian thanh toán, NHTM tiến hành những nghiệp vụ như: Mở tài khoản tiền gửi, nhận vốn tiền gửi vào tài khoản và thanh toán theo nhu cầu của khách hàng bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ,… tổ chức mạng lưới thanh toán điện tử. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 Trong đó, thanh toán theo nhu cầu của khách hàng là kết quả khi thực hiện hai công việc trên. NH trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi, tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng. Với sự ra đời và phát triển của NHTM, phần lớn các khoản thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ của xã hội được thực hiện qua NH với những hình thức thanh toán tiên tiến và thủ tục ngày càng đơn giản.
Chức năng tạo tiền Khi hệ thống NH hai cấp đã được hình thành , các NH không còn hoạt động riêng lẻ mà theo hệ thống. Trong đó NH Trung ương giữ độc quyền phát hành giấy bạc NH và với vai trò NH của các NH. Còn các NHTM chuyên kinh doanh tiền tệ trong mối quan hệ với các doanh nghiệp và cá nhân. Với chức năng trung gian tài chính và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền gửi thanh toán.
Thông qua chức năng làm trung gian tài chính, NH sử dụng số tiền huy động vốn có được để cho vay, số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng để thanh toán, chuyển khoản cho khách hàng ở NH khác và chỉ khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, NH mới bắt đầu tạo tiền. Từ một tài khoản tiền gửi ban đầu, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong hệ thống NHTM, số tiền gửi đã tăng lên gấp bội so với lượng tiền gửi ban đầu. Khả năng tạo tiền của NHTM phụ thuộc vào các yếu tố như: Tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tỉ lệ dự trữ dư thừa và tỉ lệ giữa tiền mặt so với tiền gửi thanh toán. Mở rộng tiền gửi là chức năng vốn có của hệ thống NHTM, gắn liền với hoạt động tín dụng và thanh toán.
Hay nói cách khác, khi NH cung ứng tín dụng bằng chuyển khoản là nó tạo ra tiền và tăng lượng tiền cung ứng, khi thu nợ, lượng tiền cung ứng giảm xuống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 Như vậy, lượng tiền giao dịch không chỉ là giấy bạc NH, do NH Trung ương phát hành, mà bộ phận quan trọng là do tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra. Nội dung hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1. Hoạt động tạo lập nguồn vốn NHTM là một loại hình doanh nghiệp bởi vậy, muốn mở rộng các hoạt động kinh doanh, nó phải tự lập được nguồn vốn gồm: a.
Vốn tự có Vốn tự có của NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của NH Trung ương. Nguồn vốn này chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số nguồn vốn kinh doanh của NH, song nó có ý nghĩa quan trọng: là cơ sở để thu hút nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo ra uy tín của NH với khách hàng, sử dụng xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho NH. Đồng thời vốn tự có còn là cơ sở thu hút được nhiều nguồn vốn huy động và xác định hệ số an toàn trong kinh doanh của NH. Bởi vậy, các NH không ngừng tăng cường bổ sung vốn điều lệ, trích lập các quỹ dự trữ và sử dụng các tài sản nợ.
Vốn huy động Huy động vốn nhàn rỗi là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của NHTM. Nó tạo ra nguồn vốn chủ lực trong kinh doanh. NHTM thường huy động vốn nhàn rỗi của xã hội qua các hình thức nhận tiền gửi và phát hành các chứng từ có giá. ● Huy động tiền gửi là hình thức huy động vốn phổ biến của NHTM.
Các khoản tiền gửi có thể được chia thành: - Tiền gửi không kì hạn: là loại tiền gửi mà người gửi có thế rút ra bất cứ lúc nào, nó có thể là tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm không kì hạn. - Tiền gửi có kì hạn: là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và NH. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.