Mở đầu Chƣơng 1. Tổng quan về công tác giao đất, cho thuê đất phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu thực trạng công tác giao đất, cho thuê đất tại huyện Thạch Thất. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giao đất, cho thuê đất.
Kết luận và kiến nghị CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT PHỤC VỤ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI 1.1 Tổng quan về việc giao đất, cho thuê đất ở Việt Nam Trước khi giành độc lập dân tộc năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến của thực dân Pháp. Đất đai là của tầng lớp quan lại, địa chủ quản lý, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được coi như tài sản thông thường, được sử dụng như hàng hoá, là đối tượng mua bán, cầm cố, cho thuê, phát canh thu tô… Người nông dân không có đất sản xuất mà phải đi làm thuê với một mức giá rẻ mạt cho các ông chủ đồn điền, ở miền Bắc là các nhà địa chủ sản xuất nông nghiệp, ở miền Nam bao gồm cả sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, nên đời sống vẫn vô cùng khó khăn. - Sau cách mạng tháng 8 thành công năm 1945, sự thành lập Nhà nước công nông đã đặt nền tảng cho sự ra đời của quan hệ sản xuất mới, trên cơ sở đó những quan hệ xã hội mới trong đó có các quan hệ ruộng đất được hình thành và phát triển trên nền tảng vững chắc là sự quản lý thống nhất toàn bộ ruộng đất của Nhà nước và các hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa đối với ruộng đất đã chiếm ưu thế tuyệt đối. Các quan hệ về ruộng đất ngày càng được đổi mới, củng cố và phát triển theo đà phát triển chung của toàn xã hội.
Những tàn dư của quan hệ bóc lột đã bị xoá bỏ do tính chất hàng hóa của đất đai đã bị hạn chế tới mức tối đa. Chính những quan hệ ruộng đất ngày càng đổi mới này, sự đòi hỏi tất yếu này sẽ ra đời một điều chỉnh mới, đó là phương pháp điều chỉnh của ngành ruộng đất nói chung, trong đó có mục tiêu đảm bảo cho đất được sử dụng đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao bằng hình thức khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, cải tạo đất… Nhà nước tuyên bố ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp, nghĩa vụ lương thực trong một thời gian nhất định hoặc quy định miễn thuế nông nghiệp, lương thực trong một số năm đầu của đất khai hoang, phục hoá. Quy định cho việc mượn đất, sản phẩm làm ra được hưởng không tính vào phương án ăn chia, quy định việc cho vay và xoá nợ trong việc giao đất, giao rừng. Vì vậy đời sống nhân dân đã có sự cải thiện nhất định.
Sau đó Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thực hiện chính sách quản lý nền kinh tế đất nước theo cơ chế tập trung bao cấp, khuyến khích vận động nhân dân góp đất để xây dựng hợp tác xã lớn, nhằm có bước nhảy vọt về hình thái xã hội. Nhưng chủ trương này không phát huy được hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất dẫn đến việc sử dụng đất bị lãng phí và hiệu quả thấp, nền kinh tế đất nước ta lâm vào tình trạng lạc hậu kém phát triển, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Bởi vậy Đảng và Nhà nước cần có sự thay đổi về chính sách quản lý sử dụng đất đai. - Năm 1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã bầu đồng chí Nguyễn Văn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Linh làm Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam với khẩu hiệu “nói và làm”, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương xây dựng nền kinh tế đất nước phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nhận trong xã hội có 5 thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển bình đẳng.
Lúc này nước ta bắt đầu có sự mở cửa giao lưu kinh tế với nhiều nước trên thế giới, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam được các nhà đầu tư quốc tế chú ý. Thành phần kinh tế tư nhân trong nước được tạo điều kiện phát triển. Đi kèm theo đó là chính sách quản lý và sử dụng đất đai được cụ thể hoá thành luật: Luật Đất đai năm 1987; Luật Đất đai 1993, Luật sửa đổi, bổ sung năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2001; Luật Đất đai 1993 ra đời là công cụ để Nhà nước quản lý toàn bộ đất đai theo pháp luật, đáp ứng cơ bản mục tiêu đẩy mạnh công tác quản lý đất đai ở các địa phương đi vào nề nếp. Đối với công tác giao đất đã có những quy định cụ thể về thời hạn, định mức giao các loại đất, đối tượng giao để sử dụng, cơ quan có thẩm quyền được giao đất.
Ngoài ra Nhà nước còn ban hành các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư… quy định cụ thể về giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp. Với quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất cho các tổ chức cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài, có thời hạn thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước đã giao đất nông nghiệp cho nhân dân theo mục đích sử dụng đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm là 20 năm, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp là 50 năm. Đất phi nông nghiệp cho các hộ gia đình cá nhân là 30 năm, cho các tổ chức là 50 năm, đã tạo điều kiện và khuyến khích người sử dụng đất yên tâm đầu tư vào đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Ngoài ra còn có chính sách khuyến khích nhân dân đầu tư công sức đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng thông qua việc đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới.
Để đảm bảo hài hoà quyền lợi của Nhà nước và người sử dụng đất, Nhà nước đã ban hành giá cho từng loại đất, vì vậy các cơ quan chức năng có thể xác định được số tiền sử dụng đất mà người sử dụng đất phải nộp (đối với trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất), xác định được mức tiền thuê đất (đối với TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường hợp Nhà nước cho thuê đất), xác định được mức thuế chuyển quyền sử dụng đất, xác định được giá trị tài sản được Nhà nước giao đất (đối với các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất) và xác định được khoản tiền mà người sử dụng đất được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích công cộng, mục đích quốc phòng – an ninh và lợi ích quốc gia. Luật Đất đai 1993 ra đời đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có cơ hội được thuê đất thực hiện các dự án đầu tư cụ thể, góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước phát triển theo cơ chế thị trường. Mặc dù vậy để phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của nước ta trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và năm 2001. Tuy nhiên việc thu hồi đất để thực hiện giao đất, cho thuê đất mới chỉ được thực hiện đối với các dự án đã được phê duyệt cụ thể, do đó vẫn chưa phù hợp với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới, vì vậy Luật Đất đai 2003 đã quy định Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, GPMB sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
Cho phép tổ chức Phát triển quỹ đất (do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập) được thực hiện việc bồi thường, GPMB và trực tiếp quản lý quỹ đất đã thu hồi đối với trường hợp sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư nhằm tạo mặt bằng sạch rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khi quyết định đầu tư. Để tiếp tục đưa đất nước tiến lên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã có chủ trương tiếp tục phát triển nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Vì vậy ngoài việc quy hoạch đất nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước, Chính phủ đã phê duyệt nhiều dự án đầu tư phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp với tầm cỡ quốc gia và vùng lãnh thổ nhằm thu hút đầu tư quốc tế. Các địa phương thực hiện quy hoạch các dự án cụm, điểm công nghiệp vừa và nhỏ tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong nước được thuê mặt bằng phát triển sản xuất.
Theo số liệu điều tra cho thấy trong giai đoạn đầu của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thế kỷ 21 Nhà nước đã giao cho các đối tượng sử dụng là 24.000 ha, chiếm 75,53% tổng diện tích tự nhiên cả nước, cụ thể như sau: + Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng 14.000 ha chiếm 59,52% tổng diện tích đã giao, trong đó diện tích đất nông nghiệp 13.000 ha, chiếm 93,53% diện tích đất nông nghiệp Nhà nước đã giao cho các đối tượng sử dụng. + Các tổ chức trong nước sử dụng 9.000 ha chiếm 38,95 % tổng diện tích đã giao, cho thuê; trong đó diện tích đất phi nông nghiệp 1.000 ha, chiếm 59,50% diện tích đất phi nông nghiệp Nhà nước đã giao cho các đối tượng sử dụng. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được thuê sử dụng 56.000 ha (chỉ chiếm 0,22%), trong đó đất nông nghiệp 30.000 ha (53,57%), đất phi nông nghiệp 26. Trong đó có hơn 130 dự án đầu tư khu công nghiệp và khu chế xuất được Thủ tướng Chính phủ ký duyệt với diện tích đất quy hoạch gần 30.000 ha, trong đó diện tích đất giao, cho thuê chiếm 67%.
Đến nay nhiều dự án đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đi vào sản xuất theo nội dung phê duyệt, tạo ra sản phẩm cho xã hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Có hơn 200 dự án cụm công nghiệp do UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt với diện tích khoảng 15.