đặt vấn đề, phát biểu vấn đề và giải quyết vấn đề (có thể hiểu đây là kiểu trình bày nêu vấn đề). Mức độ 2: Giáo viên đặt vấn đề và phát biểu vấn đề, học sinh giải quyết vấn đề. Mức độ 3: Giáo viên định hướng, điều khiển học sinh (nghĩa là giáo viên đặt vấn đề, học sinh phát biểu vấn đề và giải quyết vấn đề). Mức độ 4: Giáo viên tổ chức kiểm tra và hướng dẫn học sinh tự đặt vấn đề, phát biểu và giải quyết vấn đề (Mức độ này phù hợp với phương pháp nghiên cứu trong dạy học).Mối quan hệ giữa phương pháp nêu vấn đề với các phương pháp dạy học khác trong môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông Theo các nhà giáo dục thì phương pháp nêu vấn đề là phương pháp dạy học có nhiều ưu thế, có thể khắc phục được những hạn chế của các phương pháp dạy học truyền thống.
Tuy vậy, phương pháp dạy học nêu vấn đề không phải là một phương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn pháp vạn năng, nó cũng chỉ là một phương pháp dạy học trong hệ thống các phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông. Trong hệ thống các phương pháp dạy học, mỗi phương pháp có những vai trò, vị trí và có mối liên kết với nhau, tác động và bổ sung cho nhau. Không thể nói phương pháp nào ưu thế hơn vì có phương pháp thì phù hợp với nội dung kiến thức này nhưng có phương pháp phù hợp với nội dung khác, đối tượng và điều kiện khác. Chính vì vậy, để phương pháp nêu vấn đề thực sự phát huy ưu thế thì người giáo viên phải biết nắm vững bản chất của từng phương pháp dạy học, từ đó biết kết hợp và vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo trên cơ sở phương pháp chủ đạo là dạy học nêu vấn đề.
Phương pháp nêu vấn đề có khả năng thâm nhập vào hầu hết các phương pháp dạy học và làm cho phương pháp dạy học đó tích cực hơn. * Phương pháp nêu vấn đề với phương pháp thuyết trình. Phương pháp thuyết trình là một phương pháp dạy học truyền thống, tuy không còn được sử dụng phổ biến hiện nay, thậm chí còn bị phê phán nếu quá lạm dụng. Tuy vậy, đây là phương pháp dạy học có những ưu điểm nhất định, phù hợp với việc dạy học những vấn đề khó, trong những lớp có đông học sinh hay trong các trường hợp cần có sự dẫn dắt, cần phải đặt vấn đề.
Thực tế cho thấy là các phương pháp dạy học (kể cả truyền thống lẫn hiện đại) sẽ không phát huy hiệu quả khi không có sự kết hợp, thiếu sự tham gia của phương pháp thuyết trình. Khi thực hiện bài giảng bằng phương pháp dạy học nêu vấn đề thì vấn đề cốt lõi là việc xây dựng tình huống có vấn đề, để tình huống có vấn đề đó thâm nhập vào người học, trở thành động lực thôi thúc học sinh giải quyết vấn đề thì phải vận dụng phương pháp thuyết trình để dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề, hay những vấn đề khó học sinh không thể tự giải quyết được, những vấn đề có sự kết luận, mở rộng v. tất yếu phải kết hợp phương pháp thuyết trình. Hơn nữa, trong các kiểu dạy học nêu vấn đề, trình bày nêu vấn đề là một kiểu dạy học khá phổ biến, trong kiểu dạy học này thể hiện sinh động nhất sự kết hợp giữa phương pháp dạy học nêu vấn đề với phương pháp dạy học thuyết trình.
Để nêu vấn đề một cách thuyết phục, cuốn hút học sinh vào vấn đề thì tất yếu phải thông qua phương pháp thuyết trình. Nếu người giáo viên có năng khiếu thuyết trình, biết tạo điểm nhấn, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn tạo kịch tính trong nêu vấn đề thì học sinh sẽ dễ hiểu vấn đề giáo viên nêu ra và thôi thúc học sinh tìm hiểu vấn đề. Ngược lại, trong dạy học bằng phương pháp thuyết trình nếu người giáo viên biết kết hợp với phương pháp nêu vấn đề thì sẽ tránh được sự mệt mỏi trong tiếp nhận tri thức của học sinh. * Phương pháp nêu vấn đề với phương pháp đàm thoại.
Đàm thoại là một phương pháp dạy học độc lập, có nhiều ưu điểm, tuy nhiên không ít giáo viên không phân biệt được phương pháp đàm thoại và phương pháp dạy học nêu vấn đề, họ đồng nhất giữa việc nêu câu hỏi đàm thoại với nêu vấn đề nghiên cứu. Đó là một sai lầm nghiêm trọng, có những giáo viên khi thực hiện bài giảng thì chủ tâm là sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề nhưng thực chất đó là sử dụng phương pháp đàm thoại. Hai phương pháp dạy học học này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, đối với những vấn đề khó, hoặc những vấn đề cần phải mở rộng hay đối với những đối tượng học sinh không đồng đều thì trong nêu vấn đề cần kết hợp với phương pháp đàm thoại.
Bằng các hình thức như đàm thoại gợi mở, đàm thoại tái hiện kiến thức… học sinh sẽ có sự liên hệ với vấn đề giáo viên nêu ra và từ đó rút ra bài học cho mình. * Phương pháp nêu vấn đề với phương pháp trực quan. Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề sẽ có hiệu quả hơn nếu giáo viên biết kết hợp với phương pháp trực quan. Nếu giáo viên chỉ biết nêu tình huống bằng các câu hỏi tình huống thì dẫn đến sự nhàm chán hoặc không kích thích học sinh suy nghĩ khi trong suốt buổi học giáo viên đã nêu ra nhiều vấn đề.
Bằng phương pháp trực quan giáo viên có thể nêu vấn đề một cách sinh động hơn, giảm bớt được áp lực tìm tòi tri thức của học sinh. Trong những bài học mà nội dung có quan hệ mật thiết với cuộc sống của học sinh như các bài về đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ta thì việc kết hợp phương pháp dạy học nêu vấn đề với phương pháp trực quan là một giải pháp hiệu quả. Cũng có thể vận dụng, kết hợp phương pháp nêu vấn đề với phương pháp trực quan trong việc minh họa các vấn đề mà học sinh đã giải quyết.TS Vũ Hồng Tiến cho rằng: “Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ, thay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống, hay nhập nội một số phương pháp dạy học xa lạ vào quá trình dạy học. Vấn đề là ở chỗ cần kế thừa và phát triển mặt tích cực của phương pháp dạy học như thuyết trình, đàm thoại, trực quan… đồng thời phải vận dụng, học hỏi một số phương pháp dạy học mới một cách linh hoạt nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta hiện nay” [24, tr23].
Vai trò của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông Kiến thức GDCD cũng như kiến thức của môn học khác trong nhà trường phổ thông đều là một bộ phận trong ý thức xã hội. Hệ thống tri thức của môn GDCD ở THPT được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khoa học khác nhau như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, CNXH khoa học, đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước, pháp luật học.Đặc thù nói trên đòi hỏi người GV GDCD bên cạnh việc nắm vững nội dung liên quan ở những lĩnh vực, những bộ môn khoa học khác nhau. Người GV GDCD phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, phải am hiểu nhiều lĩnh vực, nắm vững và biết vận dụng kiến thức của các lĩnh vực, các bộ môn khoa học khác nhau vào bài học GDCD. Sự đa dạng của hệ thống tri thức cũng đòi hỏi người GV GDCD phải sử dụng một cách đa dạng và linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với đặc thù tri thức của từng phần, từng bài học GDCD.
Nội dung của mỗi bài học, tiết học GDCD luôn định hướng cho học sinh về trách nhiệm của các em đối với bản thân, gia đình và xã hội, cũng như xác định thái độ, trách nhiệm của các em trước các vấn đề lớn lao của dân tộc và thời đại. Giáo dục, bồi dưỡng vun đắp để giúp các em từng bước định hình được một nhân cách trong sáng, biết lựa chon cho mình lí tưởng, lẽ sống đúng đắn. Thực tế, dạy học nêu vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong dạy học GDCD. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học.
Dạy học nêu vấn đề trong dạy học GDCD còn giúp HS nắm được nội dung chính bài học ngay trên lớp, khắc sâu được kiến thức của bài, làm cho giờ sôi nổi, hào hứng không nhàm chán, phát huy hứng thú của học sinh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Cơ sở thực tiễn 1. Thực trạng việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD lớp 11 ở một số trường THPT nói chung và ở trường THPT Ngô Quyền tỉnh Thái Nguyên nói riêng 1.
Thực trạng việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong môn Giáo dục công dân lớp 11 ở một số trường THPT, tỉnh Thái Nguyên Thái Nguyên là mô ̣t tỉnh miền núi trung du, nằ m trong vùng trung du và miề n núi Bắc Bộ, có diê ̣n tić h là 3.562,82km2 và dân số hiê ̣n nay là hơn 1triê ̣u người, chiế m 1,13 % diê ̣n tích và 1,41% dân số so với cả nước.Theo thố ng kê, trên điạ bàn tỉnh Thái Nguyên có nhiều dân tộc anh em sinh số ng, trong đó có 8 dân tô ̣c chủ yếu đó là Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, H’mông, Sán Chay, Hoa, Dao. Trong những năm qua, Đảng bô ̣ và nhân dân tỉnh Thái Nguyên luôn đoàn kế t, khắ cphu ̣c mo ̣i khó khăn, tích cực thi đua, lao động sản xuấ t, phát triể n kinh tế xã hô ̣i, đẩ y ma ̣nh sự nghiê ̣p CNH- HĐH. Trong nhiều năm tỉnh Thái Nguyên đã có những bước tiến vươ ̣t bâ ̣c trên mo ̣i liñ h vực, trong đó có Giáo du ̣c và Đào ta ̣o. Theo số liê ̣u điề u tra, hiê ̣n nay có 39 trường THPT với gầ n 43.000 ho ̣c sinh và 2.