Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học lớp 8, lớp 9 và giải theo phƣơng pháp chung giải các bài toán hóa học, THPT. Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả quá trình dạy và học môn Hóa học THCS. Quá trình dạy học Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hóa học nói riêng gồm hai hoạt động cơ bản, gắn bó chặt chẽ và thống nhất với nhau là hoạt động dạy và hoạt động học.
Hoạt động dạy là toàn bộ hoạt động của thầy trong quá trình dạy học nhằm truyền thụ các kiến thức cho HS, làm cho HS nắm vững kiến thức và kỹ năng, trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức tƣ duy hình thành thế giới quan khoa học cho HS. Hoạt động học là toàn bộ hoạt động của HS nhằm tiếp thu các kiến thức dƣới sự tổ chức, điều khiển của thầy nhằm tìm hiểu, khám phá, lĩnh hội kiến thức, để từ đó hình thành quan điểm duy vật biện chứng, đạo đức và nhân cách của HS. Quá trình dạy học bao gồm các thành tố: mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phƣơng pháp dạy học, phƣơng tiện dạy học và kiểm tra đánh giá, chúng có mối quan hệ tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau. Muốn nâng cao chất lƣợng dạy học của môn học thì cần thiết phải đổi mới từng thành tố của quá trình dạy học.
Chất lượng dạy học Trong giáo dục, chất lƣợng giáo dục không phải đƣợc biểu hiện qua việc ngƣời học đọc đƣợc bao nhiêu quyển sách, làm đƣợc bao nhiêu bài tập,.mà điều quan trọng nhất là thông qua quá trình giáo dục đó ngƣời học thay đổi đƣợc những gì về mặt nhận thức, về động cơ học tập, thái độ và hành vi học tập. Nhƣ vậy, chất lƣợng giáo dục sẽ đƣợc biểu hiện tập trung nhất ở nhân cách của ngƣời học- ngƣời đƣợc đào tạo, đƣợc giáo dục. Chất lƣợng dạy học là một bộ phận hợp thành quan trọng của chất lƣợng giáo dục. Chất lƣợng dạy học có thể hiểu là chất lƣợng giảng dạy của ngƣời dạy và chất lƣợng học tập của ngƣời học, trong đó chất lƣợng dạy học đƣợc biểu hiện tập trung nhất ở chất lƣợng học tập của ngƣời học.
Ngƣời học là ngƣời quyết định chính đến chất lƣợng dạy học. Muốn nâng cao chất lƣợng dạy học thì đồng nghĩa với việc phải nâng cao chất lƣợng học tập của ngƣời học. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lý luận dạy học hiện đại đã chỉ ra rằng: Ngƣời học trong quá trình đào tạo không chỉ là đối tƣợng của hoạt động dạy mà còn là chủ thể của hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Trong các hình thức tổ chức học tập thì việc tự học có một vai trò quan trọng ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng dạy học.
Do vậy việc bồi dƣỡng ngƣời học phƣơng pháp luận khoa học, phƣơng pháp nghiên cứu và phƣơng pháp tự học sẽ giúp ngƣời học phát triển những phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ sáng tạo, chính là dạy phƣơng pháp nhận thức để tìm ra tri thức. Một số biện pháp đổi mới để nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở THCS. Chất lƣợng, hiệu quả của quá trình dạy học hóa học phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ nội dung chƣơng trình đào tạo, hệ thống sách giáo khoa, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy và học, đổi mới phƣơng pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. Trong phạm vi bản luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến tầm quan trọng của bài tập hóa học trong giảng dạy môn hóa học, trong đó tập trung vào việc lựa chọn, phân loại và phƣơng pháp giải bài toán hóa học để góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn hóa học.
Bài tập hóa học 1. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình dạy và học môn hóa học THCS. Bài tập hóa học có ý nghĩa, tác dụng to lớn, thể hiện ở các mặt sau: - Làm chính xác hóa các khái niệm, giúp học sinh hiểu sâu sắc các khái niệm đã học. Học sinh có thể học thuộc lòng các khái niệm nhƣng nếu không thông qua việc giải bài tập, học sinh chƣa thể nắm vững đƣợc các khái niệm đã thuộc.
- Bài toán hóa học mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm nặng nề khối lƣợng kiến thức của HS. - Ôn tập, củng cố các kiến thức cơ bản một cách thƣờng xuyên và hệ thống hóa các kiến thức hóa học một cách thuận lợi nhất. - Thúc đẩy thƣờng xuyên sự rèn luyện kỹ năng kỹ xảo, sử dụng ngôn ngữ hóa học. Việc giải quyết các bài tập hóa học giúp học sinh tự rèn luyện các kỹ năng viết phƣơng trình hóa học, nhớ các ký hiệu hóa học, hóa trị của các nguyên tố, kỹ năng tính toán,.góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khi giải một bài toán hóa học bắt buộc học sinh phải suy lý, quy nạp, diễn dịch, loại suy, qua đó phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS. - Thông qua giải bài tập hóa học sẽ rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, trung thực trong lao động học tập, tính sáng tạo khi xử lý các vấn đề đặt ra, qua đó giáo dục tƣ tƣởng, thái độ cho các em. - Liên hệ với thực tiễn đời sống, sản xuất hóa học, qua đó giúp HS thấy đƣợc vai trò quan trọng của hóa học đối với đời sống sản xuất, rèn cho HS tính chính xác của khoa học và nâng cao lòng yêu thích môn học. Lựa chọn và phân loại bài tập hóa học Hiện nay số lƣợng câu hỏi và bài toán hóa học trong sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo rất phong phú và đa dạng.
Để phục vụ tốt cho việc dạy và học môn hóa học môn hóa học cần phải lựa chọn những bài tập bám sát nội dung chƣơng trình, mục tiêu của môn học, những bài tập có nội dung phong phú, nặng về bản chất hóa học, không lắt léo đánh đố về mặt toán học. Bên cạnh những bài tập cơ bản cần có những bài tập tổng hợp sâu sắc, phát triển trí thông minh, sáng tạo, khơi dậy niềm say mê hứng thú học tập của HS. Ngoài những bài tập có hƣớng dẫn giải cần phải có các bài tự luyện, giúp HS tự học, phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS. Sau khi đã lựa chọn đƣợc các bài tập thì việc phân loại chúng có ý nghĩa quan trọng.
Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa theo các tiêu chí khác nhau: - Dựa vào khối lƣợng kiến thức hay mức độ đơn giản, phức tạp có thể chia thành: bài tập dạng cơ bản, bài tập tổng hợp. - Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành: bài tập định tính và bài tập định lƣợng. - Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh khi giải bài tập có thể chia thành: bài tập lý thuyết và bài tập thực nghiệm. - Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài có thể chia thành: bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất; tính thành phần phần trăm của hỗn hợp; nhận biết, tách các chất ra khỏi hỗn hợp, điều chế.
- Dựa vào nội dung có thể chia thành: bài tập nồng độ, điện phân, áp suất. - Dựa vào chức năng có thể chia thành: bài tập kiểm tra sự hiểu và nhớ; bài tập đánh giá các khả năng: vẽ sơ đồ, tìm tài liệu, tổng kết.; bài tập rèn luyện tƣ duy khoa 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học (phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch.) Trong đề tài này, chúng tôi đƣa ra cách phân loại bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức, tƣ duy của học sinh dựa trên thang bậc của nhận thức. Việc đƣa ra các tiêu chí đánh giá quá trình nhận thức và tƣ duy có nhiều quan điểm: Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh theo Bloom Giáo sƣ Bloom đã đƣa ra sáu mức độ nhận thức theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp: Biết: Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong quá trình nhận thức, yêu cầu HS nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại. Hiểu: Là khả năng nắm bắt đƣợc ý nghĩa của tài liệu, khả năng diễn giải, giải thích hay suy diễn.
Vận dụng: là khả năng sử dụng thông tin, chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác, tức là sử dụng các kiến thức đã học vào một tình huống, hoàn cảnh mới. Phân tích: là khả năng chia nhỏ tài liệu ra thành các hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó. Tổng hợp: là khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể mới. Ở mức độ này HS phải sử dụng những gì đã học để tạo ra một cái gì đó hoàn toàn mới.
Đánh giá: là khả năng xác định giá trị của tài liệu: biện minh, phê bình hoặc rút ra kết luận. Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh theo quan điểm của giáo sư Nguyễn Ngọc Quang Việc đánh giá trình độ phát triển tƣ duy của HS thông qua quá trình dạy học môn hóa học bản chất là chúng ta cần đánh giá: Khả năng nắm vững những cơ sở khoa học một cách tự giác, tự lực, tích cực, sáng tạo của HS; trình độ phát triển năng lực nhận thức và năng lực thực hành trên cơ sở nắm vững những cơ sở khoa học. Căn cứ vào chất lƣợng của quá trình lĩnh hội và kết quả của nó, trình độ nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đƣợc chia thành 4 mức độ: - Trình độ tìm hiểu: Nhận biết, xác định, phân biệt và nhận ra kiến thức cần tìm hiểu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trình độ tái hiện: Tái hiện thông báo về đối tƣợng theo trí nhớ hay ý nghĩa ( kiến thức tái hiện).
- Trình độ kỹ năng: Vận dụng kiến thức vào thực tiễn bằng cách chuyển tải chúng vào những đối tƣợng và những tình huống quen thuộc ( kiến thức kỹ năng). Nếu đạt đến mức tự động hóa gọi là kiến thức kỹ xảo. - Trình độ biến hóa: Vận dụng kiến thức vào thực tiễn bằng cách chuyển tải chúng vào những đối tƣợng và tình huống quen thuộc nhƣng đã bị biến đổi hoặc chƣa quen biết.