CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm Cho vay là một hình thức cấp tín dụng. Cho vay khách hàng cá nhân (KHCN) của Ngân hàng thương mại (NHTM) là một hình thức ngân hàng chuyển giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng cho mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng, phục vụ sản xuất - kinh doanh theo một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả nợ gốc và lãi [2], [3], [18].2 Các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Các sản phẩm cho vay KHCN được thiết kế rất đa dạng và mang đặc trưng riêng của từng NHTM. Số lượng sản phẩm và tiện ích của các sản phẩm cho vay KHCN ở mỗi ngân hàng là khác nhau, giúp cho khách hàng có nhiều lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình hơn. Tuy nhiên, về cơ bản các sản phẩm cho vay KHCN được chia ra làm 5 loại chính như sau [2], [3], [18]: − Cho vay bất động sản.
Đây là hình thức cho vay đối với KHCN nhằm đáp ứng nhu cầu mua nhà, hợp thức hóa nhà đất, xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở. Thông thường, với loại sản phẩm này giá trị khoản vay tuy nhỏ hơn nhiều so với cho vay khách hàng doanh nghiệp (KHDN) nhưng cũng tương đối lớn so với các sản phẩm còn lại trong danh mục cho vay KHCN. Vì vậy, các ngân hàng đều yêu cầu khách hàng cần có tài sản đảm bảo cho khoản vay này. − Cho vay tiêu dùng.
Đây là sản phẩm được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của KHCN như mua ô tô, mua đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, chi phí cho việc đi du học…. Các khoản cho vay tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng có cơ 9 hội được hưởng một mức sống cao hơn bởi họ có thể sử dụng hàng hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả. Khách hàng của loại hình sản phẩm này chủ yếu là những người có việc làm và thu nhập ổn định như công nhân viên hưởng lương. Thông thường, đối với loại hình cho vay tiêu dùng nhỏ lẻ các ngân hàng thường cho vay mà không cần tài sản đảm bảo và thu nợ thông qua quỹ lương của khách hàng vay vốn.
Đối với các khoản vay lớn hơn như vay mua ô tô thì ngân hàng cũng yêu cầu tài sản đảm bảo là chiếc ô tô được mua, với việc cho vay để đi du học thì ngân hàng giữ sổ tiết kiệm mà ngân hàng cho khách hàng vay hình thành nên. Ở các nước phát triển thì tín dụng tiêu dùng là loại hình tín dụng phát triển nhất và đem lại nguồn thu nhập chiếm tới hơn nửa thu nhập của ngân hàng (khoảng 50% - 60%). Ở Việt Nam, cho vay tiêu dùng mới được các ngân hàng triển khai trong mấy năm gần đây và còn khá mới mẻ với người dân. Đây cũng là cơ hội để các NHTM tiến hành đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay này.
− Cho vay sản xuất kinh doanh. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh khi bị thiếu hụt về vốn để bổ sung vốn lưu động, mua sắm máy móc trang thiết bị… các KHCN thường tìm đến ngân hàng để xin vay. Đặc điểm của loại hình này là số lượng khách hàng đến giao dịch lớn nhưng doanh số giao dịch thì không cao (so với cho vay sản xuất kinh doanh của KHDN) và cũng cần có tài sản đảm bảo. − Cho vay nông nghiệp.
Là sản phẩm cho vay tập trung vào đối tượng là các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Sản phẩm cho vay này ngoài mục đích thu lợi nhuận còn có mục đích xã hội: nó góp phần làm thay đổi tập quán làm ăn của nông dân, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất lớn nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. − Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá. Là sản phẩm áp dụng cho các cá nhân có sổ tiết kiệm gửi tiền tại ngân hàng chưa đáo hạn hoặc đang nắm giữ một lượng giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán có nhu cầu sử dụng tiền.
Đây là loại hình cho vay có rủi ro thấp vì khoản vay của khách hàng được đảm bảo bằng chính những giấy tờ có giá hay khoản tiền gửi của khách hàng hoặc người có liên quan tại ngân hàng.3 Đặc điểm Ngày nay, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là một trong những nguồn thu nhập quan trọng đối với hoạt động của các ngân hàng. Các khoản cho vay đối với KHCN thường là những khoản vay có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản vay là rất lớn. Cho vay KHCN cua NHTM có những đặc điểm sau [10]: − Đối tượng khách hàng đi vay. Thường là cá nhân trong và ngoài nước, hộ gia đình, tổ hợp tác có nhu cầu sử dụng vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đó … KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn đa dạng.
− Mục đích các khoản cho vay. Thường là đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. − Nguồn trả nợ của hình thức cho vay. Là khoản tiền dùng để trả nợ thường là tiền lương, thu nhập hàng tháng và thu nhập từ các hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ và khá ổn định.
Vì vậy xu hướng cấp tín dụng cho đối tượng khách hàng này của các ngân hàng thương mại ngày nay được chú trọng phát triển nhằm giảm rủi ro ở các khoản vay thương mại lớn hiện nay. Các khoản cho vay khách hàng cá nhân đa số là ngắn hạn, chỉ một số ít là trung hạn và dài hạn. Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Lý do bởi vì ngân hàng vẫn phải tiến hành theo đủ mọi thủ tục cho vay bao gồm thẩm định hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay.
trong khi phần lớn các khoản cho vay đối tượng này có giá trị nhỏ, đa số khách hàng đi vay chỉ để bù đắp thiếu hụt chi tiêu tại thời điểm tạm thời dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao.4 Vai trò − Đối với NHTM, việc mở rộng cho vay KHCN giúp ngân hàng mở rộng mối quan hệ với đa dạng khách hàng, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, phân tán rủi ro và gia tăng lợi nhuận [10]. 11 − Đối với khách hàng, hoạt động cho vay KHCN của NHTM giải quyết tốt những nhu cầu cấp bách về vốn trong kinh doanh, và nâng cao đời sống của khách hàng, giúp họ được hưởng một mức sống cao hơn dù chưa đủ khả năng chi trả trong hiện tại [10]. − Đối với nền kinh tế, cho vay KHCN có tác dụng tích cực trong việc kích cầu tiêu dùng, từ đó tạo nên hiệu ứng kích thích sản xuất phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội [10].2 Tổng quan về hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của NHTM 1.1 Khái niệm hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, cũng hạch toán kinh doanh độc lập và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận [6]. Chính vì vậy, hiệu quả của cho vay có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh của ngân hàng do đó để đánh giá được hoạt động cho vay của một ngân hàng có hiệu quả hay không cần.
Có nhiều cách để đạt được một kết quả giống nhau nhưng cách hiệu quả nhất là cách sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất. Đối với NHTM, một khoản vốn cho vay được coi là có hiệu quả khi phạm vi, giới hạn, mức độ cho vay phù hợp với khả năng tài chính của ngân hàng, đảm bảo đúng nguyên tắc cho vay chung theo quy định của pháp luật và các quy định riêng của từng ngân hàng, hạn chế thấp nhất mức độ rủi ro trong suốt quá trình kinh doanh của ngân hàng [18]. Thu nhập từ hoạt động cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng nhưng bên cạnh đó cũng chứa đựng nhiều rủi ro [8], [11]. Do vậy, việc đảm bảo an toàn vốn vay là mục tiêu quan trọng bên cạnh mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng [11].2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân của NHTM 1.1 Quy mô cho vay.
Quy mô cho vay phản ánh khả năng tăng giảm dư nợ của ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng duy trì và mở rộng thị phần cho vay. Quy mô cho vay được thể hiện qua các chỉ số sau [9]: − Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%). Tiêu chí này dùng để so sánh tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy hoạt động cho vay của ngân hàng đang tốt, ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng, mở rộng quy mô.
Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau [9]: (Dư nợ năm T – Dư nợ năm T-1) Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%) = X 100 Dư nợ năm T-1 − Cơ cấu cho vay theo sản phẩm: Theo Vũ Anh Quân (2017) chỉ tiêu này đánh giá quy mô tín dụng theo từng nhóm sản phẩm đồng thời phản ánh việc tập trung nguồn vốn vay vào từng nhóm sản phẩm tại từng thời điểm, qua đó đánh giá được mức độ đa dạng hóa khách hàng cho vay của NHTM. Chỉ tiêu này giúp cho NHTM biết được hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng đang chú trọng vào sản phẩm nào, có phù hợp với xu hướng phát triển nhằm tăng trưởng và hạn chế rủi ro. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau [17]: Dư nợ cho vay sản phẩm Tỷ lệ dư nợ cho vay (%) = X 100 Tổng dư nợ cho vay 1.2 An toàn cho vay. An toàn cho vay được xác định thông quan các tiêu chí sau: 13 − Tỉ lệ nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn [7]. Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = X 100 Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn là một tiêu chí quan trọng để đánh giá độ an toàn tín dụng chung của NHTM.