PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của nghiên cứu Trong giai đoạn đẩy mạnh thực hiện công cuộc cải cách tư pháp nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Quan điểm chỉ đạo cho quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam được xác định trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010 và định hướng đến 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 48-NQ/TW) được xác định là phải “xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; kết hợp hài hòa bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật”. Trong bối cảnh đó, đề cập đến vấn đề thừa nhận và áp dụng tập quán pháp tại Việt Nam, Nghị quyết số 48-NQ/TW nêu trên đã chỉ rõ yêu cầu phải “Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật” (Phần III Mục 1).
Đối với pháp luật hợp đồng, Nghị quyết số 48- NQ/TW xác định: “hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thỏa thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế”. Hiện nay, tập quán pháp được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận là một hình thức pháp luật và được nhà nước bảo đảm thực hiện. Trên thực tế, việc sử dụng tập quán pháp có ý nghĩa tích cực khi nó có khả năng thay thế sự điều chỉnh của pháp luật trong những phạm vi nhất định, trong một số quan hệ xã hội; đồng thời tập quán pháp còn có vai trò bổ sung cho pháp luật trong những điều kiện nhất định. Tại Việt Nam, một số tập quán đã được Nhà nước công nhận, chủ yếu trong 4 lĩnh vực dân sự.
Khi tập quán được Nhà nước công nhận sẽ trở thành tập quán pháp và được thực hiện theo các quy định pháp luật cụ thể. Tập quán pháp không chỉ có ý nghĩa tích cực trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự hay thương mại, tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng núi hay vùng có điều kiện kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn, mà còn tăng cường khả năng tiếp cận công lý và bảo vệ quyền cho người dân. Tại Việt Nam, việc áp dụng tập quán pháp đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài qua các thời kỳ lịch sử. Dưới các triều đại phong kiến, các hương ước làng xã, các phong tục, tập quán đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế pháp luật, góp phần duy trì sự ổn định của xã hội.
Trong những năm qua, việc áp dụng tập quán trong thực tiễn xét xử các vụ án dân sự mang lại hiệu quả ngày càng cao. Tuy nhiên, ở nước ta, việc công nhận và áp dụng tập quán pháp còn gặp một số khó khăn do những hạn chế về cơ sở pháp lý và nhiều vấn đề tồn tại trong thực tiễn. Chẳng hạn, các văn bản pháp luật hiện hành chưa bao gồm định nghĩa „tập quán pháp‟, chưa quy định đầy đủ các điều kiện được áp dụng tập quán; chúng ta chưa có danh mục các tập quán. Những điều này dẫn đến các Tòa án e ngại áp dụng tập quán trong xét xử và có quan điểm không thống nhất về công nhận và áp dụng tập quán.
Trong nhiều vụ việc, Tòa án này thì cho rằng quy tắc xử sự nhất định là tập quán nhưng Tòa án khác lại cho rằng quy tắc xử sự đó không phải là tập quán. Hơn nữa, mặc dù tập quán pháp không phải là vấn đề mới ở Việt Nam nhưng những nghiên cứu hiện nay về tập quán pháp chưa đầy đủ và toàn diện. Tập quán pháp được đề cập trong một số giáo trình của các cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam. Bên cạnh đó, một số luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ bàn về tập quán pháp, trong đó phải kể đến luận án tiến sỹ của Phan Nhật Thanh, Recognizing Customary Law in Vietnam: Legal pluralism and human rights,(Thừa nhận tập quán pháp ở 5 Việt Nam: Tính đa nguyên của pháp luật và quyền con người), Trường Đại học Wollongong, Ôtx-trây-lia, 2011.
Tập quán và luật tục được đề cập tới trong các đề tài nghiên cứu, chẳng hạn như Chuyên đề: Mối quan hệ giữa tập tục và pháp luật do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thực hiện năm 1999. Đồng thời, tập quán và tập quán pháp còn được không ít các tác giả nghiên cứu trong các bài viết đã được công bố như: Trần Thế Linh, Hình thức luật pháp trong một số triều đại phong kiến Việt Nam, Người Đại biểu nhân dân, 1998; Ngô Đức Thịnh, Các giá trị luật tục ở Tây nguyên, Văn hóa, 2008; Nguyễn Chí Dũng, Luật tục với việc thi hành pháp luật, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 2005; Nguyễn Thị Tuyết Mai, Tập quán và việc áp dụng tập quán, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 2009; Phan Trung Hiền, Luật tôn giáo của một số quốc gia và khái niệm hình thức pháp luật ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 2011. Những công trình nghiên cứu hiện nay mới chỉ tiếp cận, khai thác khía cạnh hẹp của tập quán, tập quán pháp hoặc đề cập chung chung, khái quát về tập quán pháp mà chưa nghiên cứu, đánh giá toàn diện về thực trạng công nhận và áp dụng tập quán pháp tại Việt Nam thông qua xem xét pháp luật và thực tiễn xét xử, trên cơ sở đó đưa ra đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam. Có thể nói rằng, những nghiên cứu hiện nay chưa đưa ra được hệ thống đề xuất khả thi nhằm giải quyết những hạn chế của các quy định pháp luật về tập quán pháp và những vướng mắc trong thực tiễn công nhận và áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam.
Do đó, nghiên cứu về tập quán pháp ở Việt Nam và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam có giá trị lý luận và thực tiễn. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu 6 Mục đích thực hiện Báo cáo này là nghiên cứu thực trạng công nhận và áp dụng tập quán pháp trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam thông qua phân tích, đánh giá pháp luật và một số vụ án dân sự cụ thể. Trên cơ sở đó, Báo cáo trình bày một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về tập quán pháp và tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn công nhận và áp dụng tập quán pháp.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Báo cáo phân tích một số vấn đề lý luận chung về tập quán pháp; - Báo cáo phải nêu được chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến công nhận và áp dụng tập quán pháp trong lĩnh vực dân sự; - Báo cáo nghiên cứu một số vụ án dân sự điển hình có áp dụng tập quán để đánh giá được những thành công và hạn chế của việc áp dụng này trong thực tiễn xét xử; - Báo cáo đưa ra được một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam. hạm vi nghiên cứu Xuất phát từ mục đích thực hiện Báo cáo là nghiên cứu thực trạng công nhận và áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam, Báo cáo chỉ phân tích, đánh giá chính sách và pháp luật Việt Nam cũng như một số vụ án dân sự điển hình do các Tòa án Việt Nam giải quyết. Đồng thời, Báo cáo cũng chỉ tập trung vào nghiên cứu tập quán pháp trong lĩnh vực dân sự, cụ thể là công nhận và áp dụng tập quán pháp trong điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình và thương mại; trong đó, áp dụng tập quán pháp trong điều chỉnh các quan hệ dân sự được tập trung xem xét nhiều hơn. hư ng pháp nghiên cứu v đóng góp Báo cáo 3.
hư ng pháp nghiên cứu 7 Báo cáo được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung báo cáo. Báo cáo cũng sử dụng phương pháp phân tích theo trường hợp (case study) để phân tích, đánh giá việc áp dụng tập quán pháp tại Việt Nam 3.2 Đóng góp của Báo cáo Báo cáo có một số ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đây: - Đưa ra bức tranh toàn cảnh về thực trạng công nhận và áp dụng tập quán pháp tại Việt Nam; - Đưa ra các luận cứ và các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp tại Việt Nam, góp phần tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền ở Việt Nam, góp phần thực hiện tiến trình cải cách tư pháp của Việt Nam. Báo cáo gồm các phần sau đây: 1. Khái quát chung về tập quán pháp 2.
Tập quán pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam 3. Tập quán pháp trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam 4. Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam 5. Kết luận 8 HẦN NỘI DUNG 1.
Khái quát chung 1. Khái quát chung về tập quán pháp 1. Khái niệm tập quán và tập quán pháp (a) Khái niệm tập quán Hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình lên thành pháp luật. Về lý luận, có ba hình thức pháp luật là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản pháp luật.
1 Hiện nay, có nhiều định nghĩa về tập quán, chúng tôi xin nêu ra một số định nghĩa về tập quán: Theo Từ điển triết học giản yếu, tập quán là “phương thức hành vi theo kiểu mẫu sẵn có, được lặp lại trong một tập đoàn xã hội, một xã hội nhất định, trong một thời kỳ lịch sử lâu dài, và là thói quen, truyền thống của các thành viên trong xã hội ấy.