Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG ÂM NHẠC NGOẠI KHOÁ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC DUY TÂN, TP. Cơ sở lí luận về hoạt động Âm nhạc ngoại khoá ở trường Tiểu học 1. Các khái niệm của đề tài 1. Âm nhạc Âm nhạc hay gọi ngắn là nhạc, là một loại hình nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt cảm xúc của người hát hoặc người nghe.
Các yếu tố chính của nó là cao độ (điều chỉnh giai điệu), nhịp điệu (và các khái niệm liên quan của nó: nhịp độ, tốc độ), âm điệu, và những phẩm chất âm thanh của âm sắc và kết cấu bản nhạc. Là âm thanh thanh nhạc hoặc công cụ âm thanh (hoặc cả hai) kết hợp theo cách như vậy để tạo ra vẻ đẹp của hình thức, sự hài hòa và biểu hiện cảm xúc. Âm nhạc là một trong những loại hình nằm trong 7 loại hình nghệ thuật cơ bản. Sự sáng tạo, hiệu quả, ý nghĩa, và thậm chí cả định nghĩa của âm nhạc thay đổi tùy theo bối cảnh văn hóa và xã hội.
Âm nhạc thay đổi từ các sáng tác thính phòng được tổ chức chặt chẽ (cả trong sáng tác lẫn trình diễn), đến hình thức âm nhạc ngẫu hứng với các hình thức aleatoric. Âm nhạc có thể được chia thành các thể loại và thể loại con, mặc dù các phân chia và các mối quan hệ phân chia giữa các thể loại âm nhạc thường rất nhỏ, đôi khi phụ thuộc vào sở thích cá nhân, và gây nhiều tranh cãi. Trong nghệ thuật, âm nhạc có thể được phân loại như một nghệ thuật biểu diễn, một nghệ thuật tinh vi, và nghệ thuật thính giác. Nó cũng có thể được phân chia thành âm nhạc nghệ thuật và âm nhạc dân gian.
Giữa âm nhạc và toán học có mối liên hệ khá chặt chẽ. Âm nhạc có thể được chơi và nghe trực tiếp, có thể là một phần của một tác phẩm sân khấu hay phim ảnh, hoặc có thể được ghi lại. 18 Nó được chia ra hai thể loại chính: thanh nhạc và khí nhạc. Thanh nhạc là âm nhạc dựa trên lời hát thể hiện rõ ý tưởng và tình cảm.
Còn khí nhạc là âm nhạc dựa trên âm thanh thuần tuý của các nhạc cụ, nên trừu tượng, gây cảm giác và sự liên tưởng. Đối với nhiều người ở nhiều nền văn hóa, âm nhạc là một phần quan trọng trong cách sống của họ. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ xác định âm nhạc là giai điệu theo chiều ngang và hòa âm theo chiều dọc. Câu nói phổ biến như "sự hài hòa của vũ trụ" và "đó là âm nhạc rót vào tai tôi" đều cho thấy rằng âm nhạc thường có tổ chức và dễ nghe.
Đối với văn hoá Việt Nam, Âm nhạc là sự phản chiếu đời sống tinh thần, lịch sử phát triển và tâm hồn của một đất nước, một dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam vẫn bảo tồn và phát huy được những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mang đặc trưng riêng có của con người Việt Nam. Cùng với các dân tộc trên toàn thế giới, âm nhạc Việt Nam đã có một truyền thống rất lâu đời. Ngay từ xa xưa người Việt cổ đã say mê âm nhạc và coi âm nhạc là nhu cầu trong đời sống.
Thông qua âm nhạc, con người bộc lộ và gửi gắm những tâm tư tình cảm, đưa ra các những lời răn dạy khuyên bảo thế hệ sau về những đạo lý làm người trong cuộc sống. Không chỉ có vậy, âm nhạc còn là nguồn sức mạnh cổ vũ tinh thần trong lao động và trong chiến đấu, để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm tưởng hay để mơ tới một cuộc sống tương lai tươi đẹp. Trải qua bao nhiêu năm biến thiên, cho đến ngày nay âm nhạc Việt Nam vẫn còn lưu giữ một kho tàng các làn điệu dân ca, dân vũ, các nhạc khí dân tộc từ thô sơ đến phức tạp rất phong phú và đa dạng. Âm nhạc dân ca Trong kho tàng di sản âm nhạc của dân tộc ta, dân ca là một trong những di sản âm nhạc vô cùng quý báu.
Dân ca Việt Nam rất đa dạng và phong phú, được hình thành từ thực tiễn lao động sản xuất, từ trong đời sống thường ngày, trong 19 nghi thức cầu cúng tế lễ. Dân ca mỗi một tộc người ở nước ta đều mang những giá trị riêng, biểu hiện bản sắc văn hóa riêng của từng tộc người. Dân ca là những bài hát của nhân dân, hoạt động ca hát nói chung và dân ca nói riêng gắn liền với mọi hoạt động của đời sống như lao động, tâm linh, giải trí… Có thể nói những giai điệu của các bài dân ca đã xuất phát từ những tình cảm tự nhiên, trải nghiệm cá nhân và sự đóng góp của tập thể, được sáng tác do khả năng tự nhiên. Từ trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt đời sống xã hội họ đã hát cho nhau nghe rồi người này học của người kia để trở thành bài ca như riêng của mình.
Trong dân gian, dân ca thường được truyền bá bằng cách truyền khẩu. Sự hình thành một bài dân ca đầu tiên có thể do một người hát hoặc một nhóm người hát, sau đó lan truyền trong cộng đồng, người ta chỉnh sửa, bổ sung, thêm bớt âm điệu, lời ca… để hoàn chỉnh một bài dân ca. Cộng đồng nghe thấy hay, thấy hợp thì truyền nhau ca hát và bài dân ca được phổ biến rộng rãi. Phương thức lưu truyền chủ yếu của dân ca là truyền khẩu, là đặc điểm tiêu biểu của dân ca và các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian.
Khi đã được cả cộng đồng chỉnh sửa, bổ sung thì ban đầu có thể có tên tác giả, sau đó dân ca không có tác giả rõ ràng, người diễn xướng ứng tác tự do theo thẩm mỹ riêng tạo thành nhiều dị bản. Dị bản là một đặc điểm của dân ca. Để xác định được dân ca của một địa phương, một vùng, 10 miền ở nước ta, người ta thường dựa vào một vài đặc điểm có trong các bài hát đó như phương ngữ, những hư từ, tiếng đệm lót, đệm nghĩa… và những địa danh của vùng, miền. Tác giả Phạm Phúc Minh viết trong cuốn Tìm hiểu dân ca Việt Nam: “Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc”.
Theo tác giả Trần Quang Hải thì “Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào”. Như vậy có thể hiểu: Dân ca là những bài hát do nhân dân sáng tác, phương thức lưu truyền của dân ca là truyền khẩu (truyền miệng). Dân ca có 20 đặc điểm luôn được biến đổi, tạo nên các dị bản và thường không xác định được tên tác giả. Trò chơi dân gian Trong đời sống tinh thần của nhân dân xưa, hằng ngày, trong các làng xóm, thôn bản, đường làng hay ngoài ruộng đồng luôn diễn ra những hoạt động tụm năm tụm bảy vui chơi của trẻ em hay những cuộc thi tài của người lớn.
Những hoạt động này phong phú, muôn hình muôn vẻ, thu hút nhiều người tham gia và luôn sôi nổi, hào hứng. Nhân dân ta quen gọi những hoạt động vui chơi như thế là trò chơi dân gian. Trong từ điển Bách Khoa Toàn Thư thế giới của Pháp (xuất bản 10/1988) thì cái gọi là “trò chơi” này “là một hoạt động thoát khỏi những toan tính kiếm sống, sinh lợi của đời thường”. Bên cạnh đó, cuốn Đại từ điển Bách Khoa Toàn thư của Liên Xô cũ (xuất bản 1922) cũng có viết rằng “trò chơi được coi là một hoạt động không tính lợi (phí sản xuất).
Ở đó, động cơ hành động không nằm ở kết quả cuộc chơi mà nằm ngay ở quá trình hoạt động (quá trình chơi)”. Còn theo tác giả người Pháp Pancan thì: “Trò chơi là một hình thức giải trí tốt nhất để giúp con người thoát khỏi những phiền muộn của cuộc sống”. Hay theo GS Tô Ngọc Thanh thì “Trò chơi là một hoạt động dưới dạng trình diễn những tín hiệu và thông qua quy luật sáng tạo và nâng cao nhận thức của họ về tự nhiên, xã hội và bản thân”. Hầu hết những khái niệm về “trò chơi” đều cho nó gắn với mục đích cốt yếu là sự vui chơi giải trí.
Trò chơi dân gian Việt Nam cũng không nằm ngoài yếu tố đó nhưng để hiểu đúng về khái niệm trò chơi dân gian thì phải đặt nó trong đời sống của nhân dân. Nằm trong nền văn minh Phương Đông, Việt Nam ta là một nước nông nghiệp lúa nước và lấy nông nghiệp làm nghề sinh sống, lao động chính. Sự khó 21 khăn, cực nhọc là điều không thể tránh khỏi đối với người dân Việt. Điều kiện sinh sống kết hợp với lối tư duy biện chứng, 7 tổng hợp, tính cộng đồng to lớn đã tác động vào nhân dân, khiến nhân dân tạo ra nhiều hoạt động vui chơi giải trí khác nhau.
Suy cho cùng trò chơi dân gian Việt Nam là những hoạt động vui chơi giải trí do quần chúng nhân dân Việt Nam sáng tạo ra và được lưu truyền tự nhiên qua nhiều thế hệ. Trò chơi dân gian diễn ra mọi lúc, mọi nơi, không hạn định về mặt thời gian, không gian và phản ánh đời sống tinh thần, văn hóa của dân tộc. Đây là một hình thức sinh hoạt cộng đồng được nhân dân tiếp cận và gắn bó nhiều nhất. Hát Bài chòi Bài chòi – một trò chơi giải trí, một yếu tố tinh thần gắn liền trong đời sống cộng đồng, một giá trị âm nhạc được người dân Đà Nẵng – Quảng Nam gìn giữ, phát huy tích cực và tồn tại cho đến ngày nay.
Hát Bài chòi là loại hình diễn xướng dân gian có mặt hầu khắp các tỉnh Trung Trung bộ và Nam Trung bộ (từ Trị Thiên cho đến Ninh Thuận và Bình Thuận). Khác với các tỉnh khác có loại hình diễn xướng dân gian này, Hát Bài chòi Quảng Nam có những nét riêng, độc đáo, mang đậm yếu tố văn hóa truyền thống của người dân xứ Quảng. Cho đến nay, chưa ai xác định chính xác loại hình diễn xướng dân gian Hát Bài chòi trên vùng đất Quảng Nam xuất hiện từ khi nào, đến từ đâu. Nhưng thiết nghĩ, cũng như các loại hình văn hóa âm nhạc dân gian khác, Hát Bài chòi cũng không tránh khỏi sự giao thoa, tiếp biến… lẫn nhau giữa các vùng – miền lân cận, nhất là có sự tương đồng về lối sống văn hóa cộng đồng.