Chương 1 tiếp tục trình bày về các cơ sở lý luận về sự gắn kết nhân viên và mô hình về sự gắn kết nhân viên được sử dụng trong luận văn này 1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Sự hình thành khái niệm sự gắn kết nhân viên Thuật ngữ sự gắn kết nhân viên đã được sử dụng rộng rãi và là một thuật ngữ phổ biến (Robinson và cộng sự, 2004), thuật ngữ này còn tạo nên nhiều thú vị để nghiên cứu (Saks, 2006). Trong một nghiên cứu về lý thuyết về sự gắn kết thành công, Truss và cộng sự (2007) đưa ra nhận định rằng chúng ta không có một khái niệm chung cho khái niệm về sự gắn kết nhân viên.
Từ những năm 1920, Mary Parker Follett nghiên cứ về lý thuyết quản trị cũng như hành vi tổ chức của tổ chức cũng có những nghiên cứu các khái niệm liên quan đến tinh thần nhân viên, đạo đức công việc, tính hiệu quả và động lực (Parsons 1947). Theo Tạp chí kinh tế Harvard (Harvard Business Review - số tháng 1/2003), Frederick Herzberg đã nghiên cứu về nguồn gốc của thúc đẩy nhân viên (employee motivation) trong từ những năm 1950-1960 và kết luận các yếu tố làm cho nhân viên thỏa mãn và tạo động lực trong công việc khác với những yếu tố làm họ không thỏa mãn, ông có nhắc đến một số yếu tố như bị một người cấp trên luôn làm phiền, lương thấp, không gian làm việc không thích hợp, hoặc những quy định bất hợp lý… Trong nghiên cứu của Goffman (1961), nghiên cứu đề xuất một khái niệm về liên kết và không liên kết vai trò trong công việc của nhân viên (people’s attachment and deattachment from the roles varies), và cho rằng, những hành xử của nhân viên mà ở đó sự chia rẽ giữa con người và vai trò trong công việc là mờ nhạt thì cho thấy liên kết với vai trò trong công việc. Và những nhân viên thể hiện sự chia rẽ giữa bản thân họ và nhiên vụ trong công việc cho thấy họ không liên kết với vai trò công việc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Lodahl và Kejner (1965) đưa ra một khái niệm là là sự hòa nhập công việc (job involvement) để mô tả những nhân viên có thể xác định theo cảm tính công việc của họ hoặc mức độ quan trọng của công việc trong cách nhìn nhận của nhân viên.
Từ những sơ khởi ban đầu, Kahn (1990) đã đưa ra một định nghĩa gần nhất với sự gắn kết nhân viên. Khái niệm sự gắn kết nhân viên Theo Macey, Schneider, Barbara và Yong (2009), sự gắn kết nhân viên được cho là một trong những nhân tố chủ chốt để đạt được năng suất làm việc tốt; và những nhân viên gắn kết sẽ trung thành và làm việc với tổ chức lâu hơn (Smola và Sutton, 2002). Đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự gắn kết nhân viên được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu và cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về sự gắn kết nhân viên. Trong nghiên cứu của Kahn (1990), ông đưa định nghĩa về sự gắn kết nhân viên là sự đóng góp của nhân viên cho công việc hiện tại, khi gắn kết, nhân viên sẽ đóng góp sức lực, trí lực và cảm xúc trong quá trình làm việc.
Theo Schaufeli và Bakker (2003), sự gắn kết nhân viên đó là sự trái ngược của lý thuyết về sự kiệt sức của nhân viên - điều này được đề cập trong nghiên cứu của Maslach và Leiter (1997), sự gắn kết nhân viên bao gồm các yếu tố: sự hăng hái (vigor), sự cống hiến (dedication), sự miệt mài (absorption). Theo Harter và cộng sự (2002), sự gắn kết nhân viên được cho là sự dồn tâm trí, sự hài lòng và sự hưng phấn của một cá nhân vào công việc. Theo Wellins và Concelman (2005) cho rằng: sự gắn kết nhân viên là cảm xúc và thái độ của nhân viên hướng đến công việc và tổ chức. Theo Saks (2006), sự gắn kết nhân viên là một trạng thái đặc biệt bao gồm các thành phần có quan hệ đến hiệu quả công việc của từng cá nhân, các thành phần đó bao gồm tâm lý, cảm xúc và hành vi.
Lockwood (2007, dẫn theo Thái Kim Phong 2011) cho rằng sự gắn kết nhân viên (EE) là mức độ mà nhân viên gắn bó với tổ chức, nhân viên làm việc tích cực như thế nào và nhân viên ở lại trong bao lâu là kết quả của sự gắn kết đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Theo Blessing White (2011, dẫn theo Thái Kim Phong 2011), các tổ chức theo đuổi các giá trị, mục tiêu và chiến lược thành công của tổ chức thì nhân viên cũng có những giá trị, mục tiêu và chiến lược cho sự thành công của riêng mình. Sự gắn kết là hoàn toàn, trọn vẹn khi nhân viên có được sự hài lòng cao nhất về vai trò, công việc của mình vừa đóng góp nhiều nhất vào sự thành công bền vững của tổ chức. Mô hình đo lường sự gắn kết nhân viên của Alan M.
Saks (2006) Trong mô hình của Saks (2006), ông cho rằng sự gắn kết nhân viên được đánh giá thông qua sự gắn kết công việc và sự gắn kết tổ chức. Hai yếu tố này được suy ra từ lý thuyết về sự ngắn kết được đề cập trong nghiên cứu của Kahn (1990) và Rothbard (2001). Theo Saks (2006), hai vai trò chủ đạo của một thành viên trong tổ chức là: vai trò trong công việc và vai trò là một thành viên trong tổ chức đó. Saks (2006) cho rằng sự gắn kết nhân viên bị ảnh hưởng bởi những tiền đề về đặc điểm công việc, sự hỗ trợ của tổ chức, sự hỗ trợ của lãnh đạo, khen thưởng và ghi nhận, công bằng thủ tục và công bằng phân phối; và hệ quả về sự gắn kết nhân viên.
Tiền đề cho sự gắn kết nhân viên Saks (2006) đề xuất các yếu tố trong mô hình nghiên cứu được cho những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết nhân viên bao gồm: đặc điểm công việc, sự hỗ trợ của tổ chức, sự hỗ trợ của lãnh đạo, khen thưởng và ghi nhận, công bằng thủ tục và công bằng phân phối. Đặc điểm công việc Đặc điểm công việc được cho là các yếu tố cụ thể của công việc được đưa ra một cách cụ thể và có thể đánh giá được, cụ thể như kiến thức, kỹ năng, nhu cầu về vật chất và tinh thần và điều kiện làm việc (Theo Businessdictionary. Trong lý thuyết về đặc điểm công việc của Hackman & Oldham (2005), hai tác giả cho rằng đây lý thuyết về thiết kế công việc, là nền tảng cho việc mở rộng công việc (enriching job) trong một tổ chức. Nghiên cứu khác của Hackman và Oldham (1980) tìm ra 5 đặc điểm “cốt lõi” của công việc (ví dụ: các kỹ năng, nhiệm vụ công việc, ý nghĩa công việc, sự tự do và các góp ý).
Theo May và cộng sự (2004), mở rộng công việc có mối liên hệ tương hỗ với sự gắn kết của nhân viên. Theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Maslach và cộng sự (2001), đặc điểm trong công việc, trong đó nổi bật lên các yếu tố tính kiểm soát trong công việc và tiếp nhận được góp ý từ đồng nghiệp cũng như cơ hội học tập là những yêu tố có liên quan đến sự gắn kết nhân viên. Sự hỗ trợ của tổ chức Kahn (1992) đề cập vấn đề tâm lý an toàn của người lao động trong các tình huống là yếu tố để duy trì sự gắn kết nhân viên. Đồng thời, nghiên cứu còn cho thấy yếu tố về phong cách lãnh đạo là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý về an toàn, và những nhân viên có tâm lý an toàn càng cao thì họ lại có sự gắn kết cao hơn.
Theo Rhoades và Eisenberger (2002), sự hỗ trợ của tổ chức (POS) được cho là những cam kết về những hỗ trợ cần thiết cho nhân viên để họ có thể thực hện công việc một cách hiệu quả cũng như đương đầu với những tình huống căng thẳng. POS là việc tổ chức đáp ứng lại các nhu cầu về chia sẻ, sự cố gắng, sự cống hiến và lòng trung thành của một cá nhân (Jain và Sinha, 2005). Như vậy, POS đóng một vai trò quan trọng trong quá trình làm việc của nhân viên, không những trang bị cho nhân viên và còn là động lực để nhân viên vượt qua các khó khăn. Thống kê hơn 70 nghiên cứu về POS của Rhoades và Eisenberger (2002) cho thấy, nếu đạt được POS trong tổ chức sẽ giảm những hành động nghỉ việc, tức có nghĩa là tính gắn kết của nhân viên được cải thiện.
Sự hỗ trợ của cấp trên Môi trường làm việc tốt sẽ tạo điều kiện cho nhân viên trải nghiệm ý tưởng mới và không có cảm giác lo lắng về kết quả không mong muốn (Kahn, 1991). Khái niệm về sự hỗ trợ của cấp trên (PSS) được cho là đánh giá của cấp trên sự đóng góp của nhân viên cũng như quan tâm đến phúc lợi của nhân viên (Kottke và Sharafinshi, 1988). Bởi vì cấp trên làm việc với vai trò như là một người đại diện của tổ chức được giao trọng trách hướng dẫn, đánh giá những người cấp dưới về hiệu quả làm việc, còn nhân viên có thể đánh giá liệu rằng những người cấp trên mình có tạo điều kiện cho họ làm việc hay không, người nhân viên sẽ xem những điều kiện này là những gì mà tổ chức đã trao cho họ (Levinson, 1965; Eisenberger, Huntington và cộng sự, 1986). Thiếu sự hỗ trợ từ cấp trên được Maslach và cộng sự (2001) tìm ra là một yếu tố quan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 trọng có liên hệ với sự kiệt sức (burnout) trong công việc, nguyên nhân làm giảm sự gắn kết nhân viên (Schaufeli và Bakker, 2003).
Saks (2006) cho rằng PSS dường như là một yếu tố quan trọng dẫn đến sự gắn kết nhân viên. Đồng quan điểm với Saks (2006), người lãnh đạo cấp trung được cho là đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sự gắn kết và đây cũng là gốc rễ của tình trạng nhân viên không gắn kết (Bates, 2004; Frank và cộng sự, 2004). Trong nghiên cứu này, tác giả dùng cụm từ lãnh đạo cấp trung hoặc cấp trên (supervisor) được hiểu là những người lãnh đạo phòng/ban, vai trò của họ là những người trực tiếp làm việc, hướng dẫn, kiểm soát những nhân viên cấp dưới được thực hiện đánh giá về sự gắn kết nhân viên. Khen thưởng và ghi nhận Khen thưởng và ghi nhận được các nhà quản trị dùng để khuyến khích nhân viên vì những kết quả đã được hoặc được cho là sự nhận biết những gì mà nhân viên đã làm được trong quá trình làm việc tại tổ chức.