TINH CAP THIET CUA DE TÀI Hệ thống thuỷ nông Bắc sông Mã là một hệ thống thuỷ nông tương đối lớn của tỉnh Thanh Hoá, nằm kẹp giữa sông Mã ở phía Tây và Tây Nam, sông Lèn ở phía Bắc và biển ở phía Nam. Hệ thống được xây dựng từ năm 1964 gồm trạm bơm đầu mối với 7 trạm bơm trục đứng do Hungary chế tạo, kênh Nam dài khoảng 24 km, kênh Bắc dài khoảng 7 km. Hệ thống được thiết kế với nhiệm vụ tưới cho diện tích 18.600 ha, đồng thời có nhiệm vụ ngăn chặn, tiêu úng cho gần 6000 tập trung ở phía bắc sông Lạch Trường. Xưa kia, hàng năm chỉ cay được một hoặc hai vu lúa với năng suất thấp và không 6n định, nạn hạn han, ung ngập thường xuyên xảy ra, đường xá bị ngập, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng cơ sở ở nông thôn kém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần, mặt bằng dân trí kém.
Từ những năm gần đây với mục tiêu giải quyết nước tưới, tiêu phục vụ phát triển nông nghiệp, cải thiện dân sinh, cải tạo môi trường sinh thái biến đổi khu vực đông dân rộng lớn này thành một vùng trọng điểm sản xuất một năm hai vụ lúa, một vụ màu 6n định, đồng thời phát triển kinh tế toàn diện. Ngành thuỷ lợi đã đi sâu nghiên cứu giải pháp thuỷ lợi cho khu vực này và đi đến kết luận rằng giải pháp tưới tiêu duy nhất là phải tưới tiêu bằng động lực. Từ năm 1964 đến năm 1974 Nhà nước đã đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thuỷ nông Bắc sông Mã. Qua hơn 40 năm vận hành khai thác phục vụ nông nghiệp và các ngành kinh tế đã khang định hiệu quả to lớn của nó và cho đến nay hệ thống Bác sông Mã đã có 90 trạm bơm với số máy 308; phục vụ tưới cho 5 huyện thi của tỉnh Thanh Hoá với tổng diện tích thực tưới 27.
Hệ thống thuỷ nông này đã làm biến đổi diện mạo đời sống vật chat va tinh thần của một vùng rộng lớn. Từ một vùng nghéo đói, hàng năm bị hạn hán úng ngập thành một vùng kinh tế trù phú, văn hoá xã hội phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, mặt bang dân trí được nang cao. Tuy nhiên vì điều kiện kinh tế còn khó khăn, do vậy hơn 40 năm khai thác toàn bộ hệ thong chua duoc dau tu nang cap một cách triệt dé do đó hiệu quả tưới, tiêu của hệ thống bị giảm sút rất nhiều. Mặt khác hệ thống kênh mương bị xuống câp, lòng kênh bị bôi lăng, cát đùn, mái kênh bị sạt lở, cây côi, cỏ mọc ùm tùm, thậm chí có đoạn bờ kênh bị lin chiếm làm nhà.
Điểm trọng yếu nhất của hệ thống là hiện nay mực nước sông xuống rất thấp, dẫn đến bể hút của các tram bơm bị treo. không lấy được nước; điểm thử hai mye nược mặn dng cao, các tram bơm cũng không thể lấy được nước. Bénh cạnh đó nguồn kinh phí tu bd hàng năm của Nhà nước đối với hệ thẳng côn hạn chế, chủ yêu là nguồn vẫn tự có từ việc thu (huỷ lợi phi, vì thể công trình ngày một xuống cấp, Hơn nữa nhiều công trình trong hệ thông chưa chủ động tưới tiêu, hoặc biện pháp khai thác công trình còn nhiều bắt cập, tình trạng Ging hạn vẫn din ra, dẫn đến thu chỉ chưa vững chắc, do đó công tác quản lý khai thác của hệ thống còn nhiều thử thách gian lao. “Trên đây là những vấn để thực sự mang tinh thời sự của hệ thống và là vẫn đề quan tam của toàn ngành với mục tiêu cuối cũng là một hệ thống thuỷ nông là chất lượng và năng suất phục vụ tưới tiêu đạt cao nhất.
Đó cũng chính là nội dung của để tải luận văn thạc sĩ kỹ thuật *nghi*n cou c+ sẽ khoa häc nh»m n@ng cao didn tÝch. t-4i cña hd thang thud nang Ble Seng M- thanh ho,” IL MUC TIÊU NGHIÊN CUU CUA BE TÀI - Khảo sit, đánh giá được khả năng dip ứng của nguồn nước so với nhu cầu cần cung của hệ thống, hiện trạng hoạt động của hệ thống thuỷ nông Bắc Sông Mã, phan tích những tổ tại ong hạt động của hệ ~ Đề xuất được một số giải pháp nâng cao được hiệu quả tưới của hệ thố: Ill. PHAM VI VẢ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CUA ĐÈ TAL 1, Phạm vi nghiên cứu: 1g thông thuỷ nông Bắc Sông Mã có 90 tram bơm với số máy 308; phục vụ tưới cho 5 huyện của tỉnh Thanh Hoá với tổng diện tích thực tưới 27.904 ha, Từ đó dura ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tưới của hệ thống. 2 Phương pháp nghiên cứu: Dé tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: 1.
Phương pháp điều tra, phân tích, đánh giá: điều tra, đánh giá hiện trạng. cia hệ thống thuỷ nông Bắc sông Mã, phân ích các yếu tổ hạn chế của hệ thống 2. Sử dụng phần mềm tính toán chế độ tưới tiết kiệm nước để đánh giá hiệu quả tưới 3. Phương pháp kế thừa và phương pháp chuyên gia nhằm kế thừa các kết “quả nghiên cứu, tham vẫn ÿ kiến chuyên gia để đánh giá hiệu quả tưới cũa hộ thống I Chương [ONG QUAN VE CÁC NGHIÊN COU QUA TƯỚI CỦA HỆ THÓNG TH 11.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TƯỚI CỦA HỆ ‘THONG THUY NÔNG TREN THE GIỚI Dinh gid năng lực tưới của một hệ thống tưới rit có ý nghĩa thực tiễn trong công tác vận hành và quản lý hệ thống thủy nông. Công việc này giúp cho người quản lý nắm được các thông tin cẳn thiết để vận hành hệ thống góp. phần nâng cao hiệu qua tưới của hệ thống nói chung và nang lực tưới nói riêng. Đồng thời đây cũng là cơ sở quan trọng để quyết định phương án đầu tư.
nhằm nâng cao năng lực tưới của hệ thong. Vay năng lực tưới của hệ thống là gi? Năng lực tưới của hệ thống là khả năng tưới thực tế của hệ thống so với diện tích tưới theo thiết kế. Năng lực tưới được phin ảnh thông qua tỷ lệ diện tích được tưới so với diện tích tưới theo thiết kể. "Để đánh giá năng lực tưới, nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu hiện trạng tưới của các hệ thống.
Đáng chú ¥ có các nghién cưu sau đây: * Cúc nghiền cứu ở Mỹ Williams va các công sự trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng cấp nước tưới của các hệ thống tưới vùng Nam California. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra chỉ tiêu “ Năng lực tưới thực tế” It = diện tích được tưới/diện tích thiết kế. Kết qua cho thấy hau hết các hệ thống tưới cho lúa It chỉ đạt từ 55% đến 75%. + Các nghiên citu ở Trung Quắc ‘Theo Wang feng, nếu lay chỉ tiêu năng lực tưới thực tế để đánh giá, các hệ thống tưới thuộc vùng Nam Trung Quốc có hệ số It đạt tir 56% đến 82! Sur khác nhau này phụ thuộc vào diện tích phụ trách và mức độ hoàn thiện của hệ thống kênh.
+ Nghiên cứu ở Tây Ban Nha Sterphan Sell trên cơ sở nghiên cứu các hệ thống tưới vùng Đông Tây Ban Nha cho thấy, năng lực tưới thực tế của hệ thống phụ thuộc vào mức độ. hoàn thiện của kênh, phương cách quán lý vận hành của hệ thống và độ tin cậy của các chỉ tiêu thiết ké tưới. Hau hết các hệ thống tưới thuộc vùng nảy có It dao động từ 61% đến 87%, Nhìn chung các nghiên cứu trên đây cho thấy năng lực tưới của các hệ thống thủy nông chính là tỷ lệ diện tích được tưới so với diện tích tưới theo thiết kế (Ký hiệu là It). Chi số It phụ thuộc vào điều kiện hệ thống kênh.
muong, thực tiễn điều hảnh tưới và cả độ tin cậy của các chỉ tiêu thiết kế. TINH HÌNH NGHIÊN CUU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA TƯỚI CUA HỆ THONG THUY NÔNG Ở VIỆT NAM 1. Hiện trang tưới của các hệ thống thủy nông hiện nay Việt Nam cho đến nay vẫn đang là nước nông nghiệp, ni trong vùng Đông, Nam Châu 4, Diện tích tự nhiên 328.943Km*, trong đó đất nông nghiệp 8.200 hha (chiếm 24,56%), dat lâm nghiệp 11. “Tính đến năm 2000 cả nước đã xây đựng được trên S0 hệ thông thuỷ lợi lớn - vừa và hằng ngân công trình thuỷ lợi nhỏ, trong đó có: + Gần 500 hỗ lớn có dung tích trên triệu m" nuốc hoặc cổ đặp co trên 10 mm.
Với số lượng này Việt Nam đứng thứ 1Š trên th giới sau: Trung quốc, Mỹ, An độ, Nhật bản, Tây Ban Nha, Canada, Han quốc, Thé nhĩ kỳ, Bzaril, Pháp, Nam phi, México, Italia, Anh. Trong số hỗ đập lớn trên có: T2 hỗ đập có dungtích trên 10 triệu m’ nước.41 hồ đập có dung tích trên 20 triệu mỶ nước. Hỗ chứa Thuỷ nông có dung tích lớn nhất là Dau tiếng: 1580 triệu m* nước tiếp đồ là Ké gỗ: 425 triệu m’ nước; Núi cốc 175,50 triệu m nước “Trên 2000 tram bơm lớn và vừa với tổng công suất lắp máy về tưới là 250 MUW, tiêu là 300 MW, Gần 5000 cổng tưới tiêu lớn và vừa được xây dựng trên các sông lach, kênh cũng như dưới các dé s ng, để “Tổng năng lực tới tiêu của các công tình đến 2005 như sau: Năng lực tưới cho 8.3 triệu ha gieo trồng. [Nang lực tiêu ứng cho vụ mùa L7 triệu ha h công trình thuỷ lợi còn tưới trên 1 triệu ha rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả.
Lượng nước sử dụng cho nông nghỉ rất lớn theo tính toán 1985 đã sử dụng 41 tỷ mẺ nước chiếm 89.8% lượng nước tiêu thụ, năm 1990 sử dụng 46,9 tỷ m* nước chiếm 90% và năm 2000 khoảng trên 60 tỷ mỉ” nước. Tiêu ứng cho 1,4 triệu ha vy mữa, ngn mặn 70 vạn ha, cải lạo 1,6 triệu ha đất chua phn 6 Đồng bằng sông Cửu Long góp phần đưa sản lượng lượng thực dat 35,6 triệu tin, đưa Việt nam từ chỗ thiết lượng thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ2 thể giới với mức 4 tiệu tấn /năm. Tiên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn một số tổn tại rong hoạt động OLKTCTTL, tổ chức quản ý còn công kềnh kém hiệu lực, nhất là mỗi quan hệ giữa các doanh nghiệp Nhà nước khai thác công trình thủy lợi với các tổ chức hợp tác, các hộ đăng nước. Việc sử dụng nước còn lãng phí, ty tiện.
Người dân nhiều nơi chưa tham gia ích cực cùng với các tổ chức của Nhà nước trong đầu tư, quản 1, vân hành. duy tử, bảo dưỡng. Dẫn đến nhiễu hệ thông công trình dẫn dẫn bị xuống cắp, phát huy hiệu quả kém.