Luận văn thạc sĩ: Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước nông nghiệp hệ thống thủy nông Xuân Thủy tỉnh Nam Định - Trường Đại học Thủy Lợi

Phân tích ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước nông nghiệp Nam Định. Nghiên cứu tác động khí hậu, xu hướng sử dụng nước và các giải pháp thích ứng.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Chuyên ngành

Thủy lợi

Tác giả

Lê Ngọc Sơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

212
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến đổi khí hậu và hệ thống thủy nông Xuân Thủy

Biến đổi khí hậu tác động mạnh đến tài nguyên nước tại đồng bằng sông Hồng. Hệ thống thủy nông Xuân Thủy thuộc tỉnh Nam Định nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp. Khu vực này bao gồm hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy với tổng diện tích canh tác lớn. Địa hình thấp, cao trình phổ biến từ +0,7 đến +1,1m so với mực nước biển. Vùng ven biển có cao trình chỉ đạt +0,2 đến +0,4m. Khi mực nước biển dâng, phần lớn diện tích có nguy cơ ngập úng. Theo kịch bản B2 do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành năm 2012, nhiệt độ tăng dần và lượng mưa phân bố không đều hơn. Nhu cầu nước tưới cho nông nghiệp thay đổi đáng kể. Hệ thống công trình thủy lợi hiện hữu cần được đánh giá lại năng lực phục vụ. Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Ngọc Sơn, Trường Đại học Thủy lợi năm 2016, đặt nền tảng phân tích khoa học cho vấn đề cấp bách này. Đây là nghiên cứu quan trọng phục vụ quy hoạch thủy lợi vùng ven biển Nam Định trong bối cảnh khí hậu thay đổi.

1.1. Đặc điểm địa hình và vị trí hệ thống thủy nông Xuân Thủy

Hệ thống thủy nông Xuân Thủy nằm ở phía đông nam tỉnh Nam Định. Vùng phía bắc sông Ngô Đồng thuộc huyện Xuân Trường có cao trình phổ biến từ +0,5 đến +0,8m. Các xã ven sông Hồng và sông Ninh Cơ như Xuân Châu, Xuân Hồng, Xuân Thành có cao trình từ +0,9 đến +1,1m. Vùng phía nam sông Ngô Đồng thuộc huyện Giao Thủy có địa hình dốc thoải từ tây bắc xuống đông nam. Cồn Cát phía nam huyện Giao Thủy đạt cao trình +2,0 đến +2,5m. Vùng sát biển chỉ đạt +0,2 đến +0,4m, rất dễ bị ngập khi triều cường. Lịch sử từ thời Lý đã phải xây đê ngăn mặn bảo vệ đồng ruộng.

1.2. Bối cảnh biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng Bắc Bộ

Theo kịch bản biến đổi khí hậu Việt Nam năm 2012, vùng đồng bằng Bắc Bộ đối mặt với ba kịch bản phát thải: B1 thấp, B2 trung bình và A2 cao. Kịch bản B2 được khuyến nghị làm định hướng cho các địa phương. Nhiệt độ trung bình tăng từ 1,5 đến 2,5°C vào cuối thế kỷ 21. Mực nước biển dâng từ 66 đến 95cm dọc bờ biển Việt Nam. Nếu nước biển dâng 1m, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh sẽ ngập. Trên 9% dân số vùng này bị ảnh hưởng trực tiếp. Hạ tầng giao thông và thủy lợi đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng về hiệu quả phục vụ.

II. Phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước nông nghiệp

Biến đổi khí hậu làm thay đổi chế độ mưa và bốc thoát hơi nước. Nhiệt độ tăng cao dẫn đến cây trồng cần nhiều nước hơn để duy trì sinh trưởng. Tại hệ thống thủy nông Xuân Thủy, diện tích lúa chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu cây trồng. Nhu cầu nước tưới cho lúa vụ xuân và vụ mùa đều tăng. Lượng mưa phân bố không đều theo mùa tạo ra những thời đoạn thiếu nước kéo dài. Mùa khô ngày càng gay gắt hơn, mùa mưa xuất hiện những trận mưa cực đoan tập trung. Xâm nhập mặn từ biển vào sâu hơn do mực nước biển dâng và lưu lượng sông giảm vào mùa kiệt. Nguồn nước ngọt phục vụ tưới bị thu hẹp đáng kể. Các công trình đầu mối như cống Xuân Thủy phải vận hành trong điều kiện khắc nghiệt hơn. Cân bằng nước toàn hệ thống bị phá vỡ so với thiết kế ban đầu. Đánh giá định lượng mức độ thay đổi nhu cầu nước là cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp thích ứng hiệu quả.

2.1. Tác động đến chế độ mưa và nguồn nước tưới vùng Xuân Thủy

Lượng mưa năm tại Nam Định có xu hướng biến động mạnh hơn. Số ngày mưa giảm nhưng cường độ mỗi trận tăng cao. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thiếu nước trầm trọng hơn. Lưu lượng sông Hồng và sông Ninh Cơ vào mùa kiệt giảm do biến đổi khí hậu thượng nguồn. Ranh giới xâm nhập mặn tiến sâu hơn vào nội địa. Nguồn nước tưới cho vụ lúa xuân bị đe dọa nghiêm trọng. Hệ thống kênh mương nội đồng không đủ trữ lượng bù đắp thiếu hụt trong thời kỳ đỉnh nhu cầu tưới. Yêu cầu tăng cường năng lực trữ nước và điều tiết liên thời vụ trở nên cấp thiết.

2.2. Gia tăng nhu cầu nước do nhiệt độ và bốc thoát hơi tăng

Nhiệt độ tăng làm tăng lượng bốc thoát hơi nước mặt ruộng và kênh mương. Hệ số tưới thiết kế ban đầu không còn phù hợp với điều kiện khí hậu mới. Cây lúa cần thêm nước trong giai đoạn làm đòng và trổ bông khi nhiệt độ cao. Tổng nhu cầu nước toàn hệ thống tăng từ 5 đến 15% so với kịch bản không có biến đổi khí hậu. Diện tích gieo trồng có thể thu hẹp nếu không đảm bảo đủ nước tưới. Hiệu suất sử dụng nước của hệ thống kênh hở giảm do bay hơi tăng mạnh vào mùa hè. Cần tính toán lại hệ số tưới và lưu lượng thiết kế cho các công trình đầu mối theo kịch bản khí hậu tương lai.

III. Phương pháp đánh giá và mô hình tính toán nhu cầu nước nông nghiệp

Luận văn áp dụng phương pháp tính toán nhu cầu nước theo tiêu chuẩn FAO-56 kết hợp với kịch bản biến đổi khí hậu B2. Mô hình CROPWAT được sử dụng để xác định lượng nước cần thiết cho từng loại cây trồng. Số liệu khí tượng thủy văn từ các trạm quan trắc trong vùng được thu thập và xử lý. Chuỗi số liệu đủ dài đảm bảo tính đại diện thống kê. Kịch bản khí hậu tương lai được xây dựng theo phương pháp chi tiết hóa thống kê từ mô hình khí hậu toàn cầu. Các thông số nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, bức xạ mặt trời được điều chỉnh theo từng giai đoạn 2020-2050 và 2050-2100. Cân bằng nước toàn hệ thống tính theo phương trình liên tục có xét đến tổn thất kênh mương. Kết quả tính toán được kiểm chứng với số liệu thực đo. Sai số chấp nhận được không vượt quá 10%. Phương pháp luận khoa học chặt chẽ đảm bảo độ tin cậy của kết quả đánh giá.

3.1. Ứng dụng mô hình CROPWAT và dữ liệu khí tượng thủy văn

Mô hình CROPWAT 8.0 của FAO tính toán nhu cầu nước cây trồng dựa trên hệ số cây trồng Kc và bốc thoát hơi nước tham chiếu ET0. ET0 được tính theo công thức Penman-Monteith chuẩn FAO. Số liệu đầu vào gồm nhiệt độ tối cao, tối thấp, độ ẩm tương đối, tốc độ gió và bức xạ mặt trời. Các trạm khí tượng Nam Định và Văn Lý cung cấp chuỗi số liệu nhiều năm. Lịch thời vụ lúa xuân và lúa mùa tại địa phương được tích hợp vào mô hình. Kết quả cho thấy nhu cầu nước vụ xuân tăng rõ rệt hơn vụ mùa do điều kiện khô hạn đầu vụ.

3.2. Xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu cho vùng nghiên cứu

Kịch bản B2 được áp dụng theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2012. Nhiệt độ trung bình vùng đồng bằng Bắc Bộ tăng 0,5°C vào năm 2020 và 1,5°C vào năm 2050. Lượng mưa năm tăng nhẹ nhưng phân bố theo mùa thay đổi đáng kể. Mực nước biển dâng 12cm vào năm 2020 và 30cm vào năm 2050. Ranh giới xâm nhập mặn tại cửa sông Hồng mở rộng thêm từ 5 đến 10km. Ba giai đoạn đánh giá gồm hiện trạng 2016, ngắn hạn 2020 và trung hạn 2050 đảm bảo tầm nhìn quy hoạch toàn diện.

IV. Kết luận và giải pháp thích ứng cho hệ thống thủy nông Xuân Thủy

Nghiên cứu khẳng định biến đổi khí hậu làm tăng đáng kể nhu cầu nước nông nghiệp tại hệ thống thủy nông Xuân Thủy. Mức tăng nhu cầu nước toàn hệ thống dao động từ 8 đến 18% tùy theo giai đoạn và kịch bản khí hậu. Năng lực công trình hiện hữu không đủ đáp ứng nếu không có giải pháp bổ sung. Cần nâng cấp hệ thống cống đầu mối và kênh dẫn chính. Áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước như tưới ngập khô xen kẽ cho lúa giảm nhu cầu tưới 15 đến 20%. Tăng cường trữ nước nội đồng trong ao hồ và kênh bằng cách điều chỉnh lịch vận hành cống. Xây dựng hệ thống đê biển và cống ngăn mặn mới phù hợp với kịch bản nước biển dâng. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang những giống chịu hạn và chịu mặn tốt hơn. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà quy hoạch thủy lợi tỉnh Nam Định và các vùng ven biển đồng bằng sông Hồng có điều kiện tương tự.

4.1. Giải pháp công trình nâng cao năng lực hệ thống thủy lợi

Ưu tiên nâng cấp các cống đầu mối lấy nước từ sông Hồng và sông Ninh Cơ. Mở rộng khẩu diện cống để tăng lưu lượng lấy nước trong thời đoạn mực nước sông thuận lợi. Kiên cố hóa kênh chính và kênh cấp 1 bằng bê tông giảm tổn thất thấm từ 20 đến 30%. Xây dựng thêm trạm bơm dã chiến dự phòng tại các vùng cao địa hình khó lấy nước tự chảy. Nâng cao đê biển và đê sông đảm bảo ngăn mặn trong điều kiện nước biển dâng 30cm đến năm 2050. Lắp đặt hệ thống quan trắc tự động mực nước và độ mặn tại các điểm xung yếu để chủ động vận hành.

4.2. Giải pháp phi công trình và quản lý tài nguyên nước thích ứng

Chuyển đổi một phần diện tích lúa sang cây trồng cạn có nhu cầu nước thấp hơn tại vùng cao địa hình. Áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ AWD cho toàn bộ diện tích lúa giảm lượng nước tưới đáng kể. Điều chỉnh lịch thời vụ né tránh thời kỳ cao điểm thiếu nước. Tăng cường năng lực dự báo khí tượng thủy văn để vận hành công trình tối ưu. Xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa và cống đầu mối theo mùa vụ. Đào tạo cán bộ quản lý thủy lợi về phương pháp tưới tiết kiệm nước và thích ứng biến đổi khí hậu. Hợp tác liên vùng quản lý nguồn nước sông Hồng đảm bảo an ninh nước cho toàn đồng bằng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước cho nông nghiệp hệ thống thủy nông xuân thủy tỉnh nam định

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu Biến đổi khí hậu ở nước ngoài Hiện nay khái niệm “biến đổi khí hậu” và sự nóng lên toàn cầu không còn xa lạ nữa, ngược lại nó được nhìn nhận như là sự tiềm ẩn của nhiều nguy cơ do hậu quả tác động của nó. Nhiệt độ toàn cầu gia tăng cùng với sự thay đổi trong phân bố năng lượng trên bề mặt Trái đất và bầu khí quyển đã dẫn đến sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu khí quyển và đại dương mà hậu quả của nó là sự biến đổi các cực trị thời tiết và khí hậu.

Nhiều bằng chứng đã chứng tỏ rằng, thiên tai và các hiện tượng cực đoan có nguồn gốc khí tượng ngày càng gia tăng ở nhiều vùng trên Trái đất mà nguyên nhân của nó là do sự biến đổi bất thường của các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan. Điều đó đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của cộng đồng các nhà khoa học trên thế giới. Một cách tương đối có thể phân chia các công trình nghiên cứu này thành ba hướng: ● Nghiên cứu xu thế biến đổi và tính biến động của các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan trong mối liên hệ với sự biến dổi khí hậu dựa trên số liệu quan trắc từ mạng lưới trạm khí tượng. ● Nghiên cứu ứng dụng các mô hình khí hậu toàn cầu và khu vực để mô phỏng khí hậu hiện tại, qua đó đánh giá khả năng nắm bắt các hiện tượng khí hậu cực đoan của các mô hình.

● Nghiên cứu dự báo hạn mùa (season forecasting) và dự tính (projection) khả năng xuất hiện các hiện tượng khí hậu cực đoan trong tương lai với các qui mô thời gian khác nhau. Xét trên quy mô toàn cầu, số ngày đông giá giảm đi ở hầu khắp các vùng vĩ độ trung bình, số ngày cực nóng (10% số ngày hoặc đêm nóng nhất) tăng lên và số ngày cực lạnh (10% số ngày hoặc đêm lạnh nhất) giảm đi. Nhiều bằng chứng đã chứng tỏ tần suất và thời gian hoạt động của sóng nóng tăng lên ở nhiều địa phương khác nhau nhất là thời kỳ đầu của nửa cuối thế kỷ 20. Hiện tượng ENSO và tính dao động thập kỷ được cho là nguyên nhân gây nên sự biến động trong số lượng xoáy thuận nhiệt đới, dẫn đến sự phân bố lại số lượng và quỹ đạo của chúng.

Chẳng hạn, trong thời kỳ 1995 – 2005 đã có 9 năm trong đó số lượng bão ở Bắc Đại Tây Dương đã vượt quá chuẩn so với thời kỳ 1981 – 2000. Hạn hán nặng hơn và kéo dài hơn đã được quan trắc thấy trên nhiều vùng khác nhau với phạm vi rộng lớn hơn, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ sau những năm 1970. Nền nhiệt độ cao và giáng thủy giảm trên các vùng lục địa là một trong những nguyên nhân của hiện tượng này. 5 Mặc dù rất khó khăn để đánh giá sự biến đổi và xu thế của những cực trị khí hậu, Kattenberg và cộng sự (1996) đã kêt luận rằng xu thế ấm lên sẽ dẫn đến làm tăng những hiện tượng liên quan đến nhiệt độ cao trong thời kỳ mùa hè và làm giảm những hiện tương lên quan đến nhiệt độ thấp trong những ngày mùa đông.

Tuy nhiên, sự tăng lên của các cực trị nhiệt độ là khác nhau đối với từng khu vực. Bonsal va cộng sự (2001) đã phân tích sự biến đổi theo không gian và thời gian của nhiệt độ cực trị ở Canada trong thời kỳ 1950 – 1998 và thấy rằng có sự khác biệt lớn giữa các khu vực theo mùa. Theo Manton và cộng sự (2001) có sự tăng lên đáng kể của những ngày nóng, đêm ấm và giảm đi đáng kể của những ngày lạnh, đêm lạnh kể từ năm 1961 trên khu vực Nam Á và Nam Thái Bình Dương. Liên quan tới bài toán biến đổi khí hậu, nhiều nghiên cứu đã kết hợp mô hình khí hậu toàn cầu với các mô hình thủy văn quy mô lớn.

Feddes và cộng sự (1989) đã đề cập đến khả năng sử dụng mô hình khí quyển – cây trồng – nước – đất 1 chiều như một cơ sở cho việc thông số hóa trong các mô hình thủy văn. Với cách tiếp cận này, mô hình thủy văn được xây dựng có thể phù hợp với quy mô lưới của mô hình khí hậu toàn cầu (30x30km), khác một cách cơ bản so với quy mô lưới được sử dụng trong đa số các mô hình thủy văn hiện tại. Nó cho phép thể hiện quá trình tương tác giữa khí tượng và thủy văn, dẫn tới kết quả tính toán các đặc trưng khí hậu và thủy văn đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, để thực hiện bài toán hiệu chỉnh và các thông số là những hàm chưa biết của khí hậu, đất, thực vật, địa lý, sử dụng đất và địa mạo nên khối lượng dữ liệu được yêu cầu là rất lớn.

Hướng tiếp cận này không thể thực hiện cho các lưu vực quy mô nhỏ vì độ phân giải lưới thô. Vì thế, các mô hình thủy văn quy mô dưới lưới vẫn cần thiết để giải quyết bài toán biến đổi khí hậu liên quan đến các hiện tượng thủy văn trên quy mô nhỏ. Một số nghiên cứu thông qua phân tích sự biến đổi trong thời gian dài của số liệu thủy văn và khí tượng quan trắc để đánh giá tác động biến đổi khí hậu. và cộng sự (2004), tập trung vào tác động của biến đổi khí hậu lên vòng tuần hoàn thủy văn trên quy mô toàn cầu, dựa trên dữ liệu quan trắc chứng minh mối liên kết giữa hiện tượng ấm lên và sự gia tăng của vòng tuần hoàn thủy văn trên toàn cầu.

Mặc dù đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về xu hướng biến đổi dòng chảy toàn cầu, dòng 14 chảy tăng 4% với 1oC tăng lên của nhiệt độ; thực tế phần lớn các nghiên cứu theo hướng này lại được thực hiện trên quy mô khu vực, vì thế vấn đề cần chuỗi số liệu dài và tương đối đầy đủ là bức thiết. Hướng tiếp cận này có khả năng cung cấp những thông tin hữu ích về các đặc tính thủy văn trong điều kiện khí hậu tương lai. Trong nghiên cứu của Andersen H. và các cộng sự, sử dụng dữ liệu biến đổi khí hậu được dự đoán bằng mô hình ECHAM4/OPYC và được chi tiết hóa động lực bằng mô hình khí hậu khu vực HIRHAM với độ phân giải lưới 25 km và sử dụng số liệu này làm đầu vào 15 cho mô hình thủy văn Mike 11 – TRANS với cố 6 gắng cải thiện kết quả từ mô hình khí hậu khu vực bằng hệ số tỉ lệ thay đổi giá trị mưa, nhiệt độ và bốc hơi theo tháng.

Mặc dù nghiên cứu có đề cập đến giá trị cực đoan, nhưng chỉ mới dừng lại ở dòng chảy trung bình mùa lũ và mùa kiệt. Ngoài ra còn dùng chỉ số dòng chảy cơ sở và thấy xu hướng tăng dòng chảy lũ và giảm dòng chảy kiệt mặc dù nước ngầm vẫn giữ xu hướng tăng. Tác động của biến đổi khí hậu đến Nông nghiệp trên thế giới Biến đổi khí hậu đang là một hiểm họa nghiêm trọng đối với toàn thể nhân loại, nhất là những người nghèo - những người không gây ra biến đổi khí hậu nhưng lại là đối tượng đầu tiên phải chịu những thiệt hại nghiêm trọng nhất. Biến đổi khí hậu tác động tới môi trường toàn cầu nhưng rõ rệt nhất là tới đời sống dân cư, hủy hoại sản xuất nông nghiệp và làm suy thoái đa dạng sinh học và tài nguyên nước.

Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC thì các hiện tượng thời tiết cực đoan đang có khuynh hướng tăng lên một cách đáng kể về cả cường độ và tần xuất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cây trồng ở Hoa Kỳ rất quan trọng cho việc cung cấp thực phẩm ở nội địa và khắp nơi trên thế giới. Xuất khẩu của Mỹ cung cấp hơn 30% tất cả lúa mì, ngô, và lúa gạo trên thị trường toàn cầu. Những thay đổi về nhiệt độ, lượng carbon dioxide (CO2), và tần số, cường độ của thời tiết khắc cực đoan có thể có tác động đáng kể đến năng suất cây trồng.

Nhiệt độ cực cao và lượng mưa tăng lên có thể ngăn chặn các loại cây trồng phát triển. Thời tiết cực đoan, đặc biệt là lũ lụt và hạn hán có thể gây hại cho cây trồng, giảm sản lượng. Ví dụ, trong năm 2008, sông Mississippi tràn ngập trước giai đoạn thu hoạch của nhiều loại cây trồng, gây thiệt hại ước tính khoảng 8 tỷ USD cho nông dân. Ở Mỹ ngành thủy sản đánh bắt hoặc thu hoạch 5.000 tấn cá và tôm, cua, sò, hến mỗi năm.

Những loại thủy sản này đóng góp hơn 1,4 tỷ USD cho nền kinh tế hàng năm (như năm 2007). Nhiều nhà thủy sản đã phải đối mặt với nhiều áp lực, bao gồm cả đánh bắt quá mức và ô nhiễm nguồn nước. Biến đổi khí hậu có thể làm trầm trọng thêm những căng thẳng này. Đặc biệt, sự thay đổi nhiệt độ có thể dẫn đến tác động đáng kể.

Sự biến động của nhiều loài cá và các loài động vật có vỏ có thể thay đổi. Nhiều loài sinh vật biển có phạm vi nhiệt độ nhất định mà ở đó chúng có thể sống sót. Ví dụ, cá tuyết ở Bắc Đại Tây Dương yêu cầu nhiệt độ nước dưới 54°F (100oF=37. Ngay cả nước dưới đáy biển nhiệt độ trên 47°F có thể làm giảm khả năng sinh sản và cá tuyết con để tồn tại.

Trong thế kỷ này, nhiệt độ trong khu vực có khả năng sẽ vượt quá cả hai ngưỡng. Một số bệnh ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh có thể trở nên phổ biến hơn trong nước ấm. Ví dụ, ở miền nam New England, sản lượng đánh bắt tôm hùm đã giảm đáng kể. Vi khuẩn ngoài vỏ nhạy cảm với nhiệt độ có thể gây ra chết hàng loạt đã dẫn đến sự suy giảm.

Thay đổi về nhiệt độ và mùa có thể ảnh hưởng đến thời 7 gian sinh sản và di cư. Nhiều bước trong vòng đời của một động vật thủy sản được điều khiển bởi nhiệt độ và thay đổi của các mùa. Ví dụ, ở Tây Bắc ấm hơn nhiệt độ của nước có thể ảnh hưởng đến vòng đời của cá hồi và tăng khả năng gây bệnh. Kết hợp với các tác động khí hậu khác, những hiệu ứng này được dự đoán sẽ dẫn đến sự suy giảm lớn trong các quần thể cá hồi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ