Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thủy nông Xuân Thủy nằm ở phía Nam tỉnh Nam Định, bao gồm 39 xã và 3 thị trấn thuộc hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy với tổng diện tích tự nhiên đạt 35.376,62 ha. Trong đó, diện tích đất canh tác nông nghiệp chiếm hơn 16.331 ha cùng 1.843,41 ha diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Hệ thống đóng vai trò huyết mạch trong việc bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế cho hơn 355.000 người dân địa phương. Tuy nhiên, toàn bộ vùng tưới đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn nước nghiêm trọng do tác động kép của biến đổi khí hậu toàn cầu và hiện tượng xâm nhập mặn. Nguồn nước cấp từ sông Hồng và sông Ninh Cơ suy giảm mạnh trong mùa cạn, trong khi nước biển dâng đã đẩy ranh giới mặn 1 phần nghìn lấn sâu hơn 30 km từ cửa Ba Lạt vào nội đồng, làm suy giảm thời gian lấy nước của các cống đầu mối.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá định lượng tác động của biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước tưới nông nghiệp trên toàn hệ thống ở giai đoạn hiện tại và tương lai đến năm 2020. Dựa trên chuỗi dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn nhiều năm kết hợp cùng kịch bản biến đổi khí hậu trung bình B2, luận văn xác định mức độ thiếu hụt nguồn nước của từng tiểu vùng canh tác. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học chính xác giúp nâng cao hiệu quả tưới tiêu cho 13.900 ha lúa đông xuân, giảm thiểu rủi ro thiệt hại kinh tế do hạn mặn, đồng thời bảo vệ hạ tầng 1.082 km kênh mương tưới tiêu trước những biến động thời tiết cực đoan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cân bằng nước hệ thống thủy lợi kết hợp phương pháp Penman-Monteith theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc để tính toán nhu cầu bốc thoát hơi nước của cây trồng. Khung nghiên cứu tích hợp kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình B2 do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2012, phản ánh mức tăng nhiệt độ từ 0,5°C đến 1,2°C và sự biến thiên lượng mưa tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Các khái niệm khoa học then chốt bao gồm hệ số cây trồng qua từng thời kỳ sinh trưởng, tần suất mưa thiết kế phục vụ tưới tiêu P=85%, cùng ngưỡng chịu mặn 1 phần nghìn đối với cây lúa nước. Mô hình phân bổ dòng chảy được thiết lập nhằm xác định tương quan giữa nhu cầu sử dụng nước đa mục tiêu cho trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt, công nghiệp với khả năng lấy nước qua các cống đầu mối ven sông Hồng và sông Ninh Cơ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng toàn bộ chuỗi số liệu quan trắc khí tượng 21 năm liên tục từ năm 1992 đến năm 2012 từ trạm khí tượng Văn Lý về nhiệt độ, độ ẩm, lượng bốc hơi, vận tốc gió, số giờ nắng và trạm Xuân Thủy về lượng mưa. Dữ liệu thủy văn bao gồm chuỗi mực nước sông quan trắc từng giờ trong 15 năm tại trạm Ba Lạt và số liệu nồng độ mặn quan trắc tại các cống chính của Công ty Khai thác công trình thủy lợi Xuân Thủy. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu theo chuỗi dữ liệu lịch sử hoàn chỉnh kết hợp chọn năm điển hình khí văn ứng với tần suất thiết kế P=85%, xác định năm 2007 có lượng mưa 1.296,9 mm là năm điển hình tính toán. Luận văn sử dụng phần mềm FFC2008 để vẽ đường tần suất lý luận theo phương pháp mô-men, kết hợp mô hình CROPWAT 8.0 nhằm phân tích chính xác nhu cầu nước của từng loại cây trồng. Phương pháp này được lựa chọn nhờ độ tin cậy quốc tế cao, khả năng mô phỏng chi tiết độ ẩm đất và tối ưu hóa lịch tưới cho 7 tiểu lưu vực có đặc điểm thổ nhưỡng khác nhau.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Biến đổi khí hậu theo kịch bản B2 làm gia tăng nhiệt độ trung bình năm lên khoảng 24,1°C vào năm 2020, kéo theo tổng lượng bốc hơi mặt ruộng tăng từ 5% đến 8%, khiến nhu cầu nước tưới của 13.900 ha lúa vụ Đông Xuân tăng thêm khoảng 45 m3/ha đến 60 m3/ha so với giai đoạn nền.

Tình trạng xâm nhập mặn diễn biến đặc biệt gay gắt trong vụ Đông Xuân. Nồng độ mặn cao nhất quan trắc được tại cống Ngô Đồng lên tới 26,5 phần nghìn vào năm 2010 và 23,5 phần nghìn vào năm 2011; tại cống số 7 mặn đạt 7,9 phần nghìn. Mặn xâm nhập sâu khiến thời gian mở cống lấy nước tưới bị rút ngắn nghiêm trọng, các cống Cồn Nhì, Cồn Tư, Cồn Năm hầu như bị tê liệt, trong khi cống Ngô Đồng và Cát Xuyên chỉ mở được từ 2 đến 30 giờ trong suốt đợt lấy nước đổ ải.

Sự mất cân bằng nước cục bộ xảy ra sâu sắc tại các vùng hạ lưu. Lưu vực Cát Xuyên - Láng với diện tích 2.691,95 ha và Ngô Đồng - Cồn Giữa với diện tích 3.126,12 ha phải chịu tải tăng vọt do phải tiếp nước bổ sung cho toàn bộ hơn 10.000 ha đất canh tác của huyện Giao Thủy khi các nguồn lấy nước tại chỗ bị nhiễm mặn hoàn toàn.

Áp lực cạnh tranh nguồn nước phi nông nghiệp gia tăng nhanh chóng khi dân số nông thôn dự kiến đạt 364.000 người vào năm 2020 và diện tích hai khu công nghiệp lớn là Xuân Trường và Xuân Kiên mở rộng lên 683 ha với tỷ lệ lấp đầy 100%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng thiếu hụt nước bắt nguồn từ việc hạ thấp mực nước mùa kiệt trên dòng chính sông Hồng, khi mực nước tại Hà Nội có thời điểm xuống mức 0,22 m và sông Đào tại Nam Định xuống -0,62 m, kết hợp hiện tượng bồi lắng nghiêm trọng tại cửa Mom Rô khiến lưu lượng phân chia từ sông Hồng vào sông Ninh Cơ chỉ đạt 5% đến 7%. Bên cạnh đó, hệ thống công trình đầu mối xây dựng từ những năm 1960 bằng vật liệu địa phương đã xuống cấp nứt gãy nặng nề, lòng dẫn bị bồi lấp khiến khả năng lấy nước tự chảy suy giảm trên 40%. Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các báo cáo của Ngân hàng Thế giới về nguy cơ tổn thất từ 10% đến 15% sản lượng cây trồng ven biển do xâm nhập mặn.

Dữ liệu tính toán cân bằng nước và độ mặn theo tháng được trực quan hóa hiệu quả qua các biểu đồ cột so sánh tương quan nhu cầu nước giữa kịch bản nền và kịch bản B2, kết hợp bảng cân bằng nước chi tiết cho 7 tiểu lưu vực tưới nhằm làm căn cứ điều hành đóng mở cống linh hoạt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nâng cấp và cải tạo các công trình đầu mối trọng điểm: Tiến hành nạo vét khơi thông luồng dẫn, xây mới cống Hạ Miêu I và nâng cấp các cống Ngô Đồng, cống Kẹo, cống Chúa nhằm mở rộng khẩu độ lấy nước từ 10% đến 25%, bảo đảm lưu lượng cấp nước tối thiểu đạt 45 m3/s trong mùa kiệt, thực hiện trong giai đoạn 2016-2020 dưới sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nam Định.

Kiên cố hóa đồng bộ hệ thống kênh mương tưới tiêu: Trát bê tông và gia cố mái kè cho 244 km kênh cấp 1 cùng 838 km kênh cấp 2, giảm thiểu tổn thất nước do thấm lọc từ 25% xuống dưới 10%, hoàn thành vào năm 2022 do Ủy ban nhân dân hai huyện Xuân Trường, Giao Thủy chủ trì phối hợp cùng Công ty TNHH Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Xuân Thủy.

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng và lịch thời vụ thông minh: Giảm tỷ lệ giống lúa dài ngày, đẩy mạnh gieo trồng các loại cây màu cạn có giá trị kinh tế cao và nhu cầu nước thấp như lạc đông xuân lên 820 ha và đậu tương thu đông lên 830 ha vào năm 2020, tiết kiệm từ 15% đến 20% lượng nước mặt ruộng, do Phòng Nông nghiệp các địa phương hướng dẫn thực hiện hàng năm.

Thiết lập mạng lưới quan trắc mặn tự động và vận hành cống linh hoạt: Lắp đặt 8 trạm đo độ mặn tự động liên tục trên sông Hồng và sông Ninh Cơ, áp dụng quy trình đóng mở cống tự động theo ngưỡng mặn cho phép dưới 1 phần nghìn, giảm 35% rủi ro xâm nhập mặn vào nội đồng, hoàn thành trước năm 2018 do Chi cục Thủy lợi Nam Định quản lý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý và kỹ sư tại các công ty khai thác công trình thủy lợi: Tiếp cận phương pháp ứng dụng mô hình CROPWAT 8.0 để tính toán chính xác nhu cầu nước tưới và lập lịch vận hành đóng mở cống hợp lý cho hơn 16.000 ha đất canh tác trong mùa kiệt khi độ mặn ngoài sông vượt ngưỡng 1 phần nghìn.

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp: Sử dụng số liệu dự báo theo kịch bản B2 để xây dựng quy hoạch phát triển thủy lợi, định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu giai đoạn 2020-2030 cho các vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn và Kỹ thuật Tài nguyên nước: Tham khảo khung lý thuyết cân bằng nước kết hợp chuỗi số liệu quan trắc 21 năm làm tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu mô hình hóa dòng chảy và thủy văn công trình.

Chính quyền địa phương hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy: Căn cứ vào các số liệu đánh giá hiện trạng 1.082 km kênh mương để xây dựng phương án bố trí vốn đầu tư công, đồng thời kiên quyết xử lý tình trạng lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn 39 xã và 3 thị trấn.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu làm gia tăng nhu cầu nước tưới nông nghiệp tại Xuân Thủy như thế nào? Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5°C đến 1,2°C khiến lượng bốc hơi mặt ruộng tăng từ 5% đến 8%. Do đó, tổng nhu cầu nước tưới cho 13.900 ha lúa vụ Đông Xuân tăng thêm từ 45 m3/ha đến 60 m3/ha. Lượng mưa vụ kiệt suy giảm càng làm gia tăng tình trạng thiếu nước cục bộ.

Tại sao hiện tượng xâm nhập mặn lại là thách thức lớn nhất đối với việc cấp nước tại vùng nghiên cứu? Mực nước sông Hồng mùa cạn xuống thấp kỷ lục khiến thủy triều đẩy mặn sâu 30 km từ cửa Ba Lạt. Độ mặn tại cống Ngô Đồng từng chạm ngưỡng 26,5 phần nghìn, vượt xa mức chịu mặn 1 phần nghìn của cây trồng, buộc các cống phải đóng chặt nhiều ngày trong giai đoạn ngả ải.

Mô hình CROPWAT 8.0 đóng vai trò gì trong việc tính toán cân bằng nước của luận văn? Mô hình CROPWAT 8.0 giúp chuẩn hóa việc tính toán bốc thoát hơi nước tham chiếu và nhu cầu nước thực tế cho từng loại cây trồng theo tiêu chuẩn FAO. Phần mềm xử lý chuỗi số liệu 21 năm khí tượng để tối ưu hóa lịch tưới cho 7 tiểu lưu vực trong mọi kịch bản thời tiết.

Hệ thống hạ tầng thủy nông Xuân Thủy đang gặp những rào cản kỹ thuật chính nào? Nhiều công trình đầu mối xây dựng từ những năm 1960 bằng gạch đá vôi đã bị nứt vỡ, rò rỉ và bồi lấp nghiêm trọng. Đồng thời, hơn 1.082 km kênh mương cấp 1 và cấp 2 bị thu hẹp mặt cắt ngang, sạt lở bờ kênh do tác động của dòng chảy và xâm phạm hành lang bảo vệ.

Giải pháp phi công trình nào mang lại hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí nhất? Giải pháp nổi bật nhất là bố trí giống lúa ngắn ngày và mở rộng diện tích cây màu vụ đông như 820 ha lạc, 830 ha đậu tương. Kết hợp với việc đo mặn tự động trước khi lấy nước giúp giảm thiểu 20% lượng nước tiêu hao và hạn chế tối đa rủi ro ngộ độc mặn.

Kết luận

  • Xác định rõ biến đổi khí hậu và nước biển dâng làm gia tăng từ 5% đến 8% nhu cầu nước tưới nông nghiệp trên toàn hệ thống thủy nông Xuân Thủy.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng hạn mặn với nồng độ mặn cực đại đo được đạt 26,5 phần nghìn, làm suy giảm nghiêm trọng số giờ mở cống lấy nước mùa kiệt.
  • Ứng dụng thành công mô hình CROPWAT 8.0 và chuỗi số liệu 21 năm khí tượng để tính toán chi tiết cân bằng nước cho 7 tiểu lưu vực đến năm 2020.
  • Đề xuất đồng bộ các nhóm giải pháp công trình như nâng cấp cống đầu mối, kiên cố hóa 1.082 km kênh mương kết hợp giải pháp phi công trình như chuyển đổi cây trồng và đo mặn tự động.
  • Khuyến nghị triển khai ngay các giải pháp trong giai đoạn 2016-2020 nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển nông nghiệp bền vững cho 35.376,62 ha diện tích tự nhiên của vùng.

Các cơ quan quản lý và đơn vị khai thác thủy lợi hãy tham khảo và ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu này vào công tác lập kế hoạch điều hành nguồn nước để chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu!