PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: Tổng quan về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam KẾT LUẬN 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về dịch vụ Ngân hàng điện tử Trƣớc khi tiếp cận với khái niệm ngân hàng điện tử, chúng ta cùng tìm hiểu về thƣơng mại điện tử vì ngân hàng điện tử chính là tên gọi của thƣơng mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng. Theo Ủy ban Thƣơng mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dƣơng (APEC) định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet." Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và Extranet có thể đƣợc dùng để hỗ trợ thƣơng mại điện tử.
Về nguồn gốc, thƣơng mại điện tử đƣợc xem nhƣ là điều kiện thuận lợi của các giao dịch thƣơng mại điện tử, sử dụng công nghệ nhƣ EDI (Electronic Data Interchange - trao đổi dữ liệu điện tử) và EFT (Electronic funds transfer – chuyển tiền điện tử ). Cả hai công nghệ này đều đƣợc giới thiệu thập niên 70, cho phép các doanh nghiệp gửi các hợp đồng điện tử nhƣ đơn đặt hàng hay h a đơn điện tử. Vào cuối năm 2000, nhiều công ty kinh doanh ở Mỹ và Châu Âu đã thiết lập các dịch vụ thông qua World Wide Web. Từ đ , con ngƣời b t đầu có mối liên hệ với từ "thƣơng mại điện tử" với quyền trao đổi các loại hàng hóa khác nhau thông qua Internet dùng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh toán điện tử.
Thử thách này yêu cầu những mô hình kinh tế mới và phƣơng thức mới để tiếp cận với khách hàng và Ngân hàng c ng hông n m ngoài xu thế phát triển đ. Thƣơng mại điện tử tạo nên một hình thức cạnh tranh mới, buộc ngân hàng phải chọn những dịch vụ mà khách hàng cần, quyết định quy mô các chi nhánh ngân hàng trong hệ thống và mở rộng hệ thống thanh toán liên ngân hàng. 5 Đứng trƣớc yêu cầu đ ngân hàng đã cho ra nhiều dịch vụ mới : dịch vụ ngân hàng qua điện thoại sử dụng mã cá nhân, dịch vụ ngân hàng qua mạng internet, khách hàng chỉ cần một máy tính cá nhân nối mạng internet là có thể giao dịch với ngân hàng mà không cần phải trực tiếp đến ngân hàng. Theo khoản 6 và khoản 10 điều 4 Luật giao dịch điện tử đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 26/11/2005, giao dịch điện tử là giao dịch đƣợc thực hiện b ng thức tiện điện tử.
Trong đ phƣơng tiện điện tử là phƣơng tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ, hoặc công nghệ tƣơng tự. Do đ , giao dịch điện tử trong dịch vụ ngân hàng là giao dịch b ng phƣơng tiện điện tử. Những dịch vụ này đã đƣa đến một thực tế là, ngày nay cho ta thấy có một loại ngân hàng mới: dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo quyết định số 35 2006 QĐ-NHNN của Thống đốc Ngan hàng Nhà nuớc Viẹt Nam ban hành ngày 31 tháng 07 nam 2006: Hoạt đọng ngan hàng điẹn tử là hoạt đọng ngan hàng đuợc thực hiẹn qua các enh phan phối điẹn tử.
Kenh phan phối điẹn tử là hẹ thống các phuong tiẹn điẹn tử và quy trình tự đọng xử lý dịch vụ đuợc các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với hách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngan hàng cho hách hàng. Dịch vụ NHĐT bao gồm tất cả các dạng của giao dịch giữa ngan hàng và hách hàng cá nhan hoạc tổ chức dựa tren quá trình xử lý và chuyển giao dữ liẹu số h a nh m cung cấp sản phẩm dịch vụ SPDV ngan hàng. Các giai đoạn phát triển của dịch vụ Ngân hàng điện tử Năm 1989, Ngân hàng tại Mỹ (Wellfargo) lần đầu tiên cung cấp dịch vụ Ngân hàng qua mạng. Đến nay có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm thành công c ng nhƣ thất bại trên con đƣờng xây dựng hệ thống Ngân hàng điện tử hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng.
Tổng hết những mô hình đ nhìn chung, hệ thống Ngân hàng điện tử đƣợc phát triển qua những giai đoạn sau: - Giai đoạn 1: Website quảng cáo (Brochure-ware) là giai đoạn đơn giản nhất của ngân hàng điện tử. Hầu hết các ngân hàng khi mới b t đầu xây dựng ngân hàng điện tử là thực hiện theo mô hình này. Việc đầu tiên chính là xây dựng một Website chứa những thông tin về Ngân hàng, về sản phẩm lên trên mạng nh m quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc,…Thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài 6 kênh thông tin truyền thống (báo chí, truyền hình… mọi giao dịch của ngân hàng vẫn thực hiện qua hệ thống phân phối truyền thống, đ là các chi nhánh ngân hàng. - Giai đoạn 2: Thương mại điện tử (E-commerce) Với thƣơng mại điện tử, Ngân hàng sử dụng Internet nhƣ một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống nhƣ: xem thông tin tài hoản, nhận thông tin giao dịch chứng hoán,… Internet chỉ đ ng vai tr nhƣ một công cụ cộng thêm để tạo thuận lợi thêm cho khách hàng.
- Giai đoạn 3: Quản lý điện tử (E-business) Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của ngân hàng cả ở phía khách hàng (front-end và phía ngƣời quản lý (back-end đều đƣợc tích hợp với Internet và các kênh phân phối hác. Giai đoạn này đƣợc phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của ngân hàng với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của hách hàng đ với ngân hàng. Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa Hội sở ngân hàng và các kênh phân phối nhƣ chi nhánh, mạng Internet, mạng hông dây… giúp cho việc xử lý yêu cầu và phục vụ hách hàng đƣợc nhanh chóng và chính xác hơn. Internet và hoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa Ngân hàng, đối tác, hách hàng và cơ quan quản lý… - Giai đoạn 4: Dịch vụ ngân hàng điện tử E-bank (Electronic Banking) Đây chính là mô hình lý tƣởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh doanh và phong cách quản lý.
Những ngân hàng này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nh m cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lƣợng tốt nhất. Từ những bƣớc ban đầu là cung cấp các sản phẩm dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, Ngân hàng có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nh m cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tƣợng khách hàng chuyên biệt. Đặc điểm, vai trò dịch vụ Ngân hàng điện tử 1. Đặc điểm - Dịch vụ NHĐT là một quá trình tự động và khép kín: Quy trình một giao dịch điện tử b t đầu hi Khách hàng đặt lệnh yêu cầu dịch vụ và kết thúc khi có phản hồi từ 7 phía Ngân hàng tại thiết bị đặt lệnh.
Hoạt động tiếp nhận và phản hồi đều đƣợc thực hiện một cách tự động thông qua các phƣơng tiện và hệ thống điện tử. - Dịch vụ NHĐT hoạt động liên tục , không bị giới hạn về không gian, thời gian: dịch vụ hoạt động 24h/ngày và 7 ngày/tuần. Khách hàng có thể đặt lệnh tại bất cứ nơi đâu và vào thời điểm nào trong ngày c ng đều đƣợc cung cấp dịch vụ. - Dịch vụ ngân hàng điện tử có tốc độ xử lí giao dịch nhanh chóng: Dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng với thời gian ng n nhất.
Trong thời đại hiện nay quỹ thời gian của mọi ngƣời càng trở nên eo hẹp, khách hàng mong muốn chỉ ngồi một chỗ và kích chuột là có thể thực hiện đƣợc giao dịch của mình. - Dịch vụ ngân hàng điện tử mang lại nhiều cơ hội kinh doanh cho chính khách hàng. Với tốc độ phát triển của thƣơng mại điện tử ngày nay thì việc thanh toán tiền qua các dịch vụ ngân hàng điện tử là điều không thể thiếu. Cho dù là những hình thức kinh doanh nhỏ lẻ (nhận tiền rồi giao hàng đến những hình thức kinh doanh cao cấp hơn cổng thanh toán trực tuyến.) vẫn không thể thiếu sự tham gia của các dịch vụ ngân hàng điện tử.
Càng nhiều đối tác liên kết thanh toán qua dịch vụ NHĐT, ngân hàng và khách hàng càng có lợi. - Dịch vụ ngân hàng điện tử có tính toàn cầu hóa: Các kênh phân phối NHĐT đều đƣợc tổ chức thành hệ thống mạng. Một đầu mạng là thiết bị giao dịch đƣợc nối với khách hàng nhƣ điện thoại, máy ATM, máy tính, mobile… Các thiết bị này đƣợc nối trực tiếp hoặc gián tiếp đến trung tâm của mạng là hệ thống cơ sở dữ liệu và xử lý thông tin của Ngân hàng. Trên thực tế hiện nay chỉ có mạng Internet là mạng toàn cầu, còn các mạng khác mang tính quốc gia hoặc khu vực mà thôi.
Vai trò - Dịch vụ ngân hàng điện tử tăng thời gian, không gian làm việc của ngân hàng với khách hàng. Nếu NHĐT là một ngƣời bạn “riêng tƣ” cho hách hàng, c độ tin cậy cao về thông tin tín dụng, làm đƣợc điều này các ngân hàng sẽ tiết kiệm đáng ể đƣợc các chi phí cố định mở phòng giao dịch và giảm đƣợc số lƣợng nhân viên. 8 - Xét trên quan điểm kinh tế thì dịch vụ NHĐT tiết kiệm chi phí cho ngân hàng. Theo đ , tất cả các chi phí liên quan đến các hoạt động giao dịch, thanh toán, chi phí kiểm đếm, các chi phí đi lại sẽ giảm thiểu.
- Xét về mặt kinh doanh tiền tệ, Dịch vụ ngân hàng điện tử giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Thông qua các dịch vụ của NHĐT, các lệnh về chi trả, nhờ thu của hách hàng đƣợc thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn chu chuyển nhanh, thuận lợi, thực hiện tốt quan hệ giao dịch, trao đổi tiền - hàng.