CHƯƠNG 1 CƠ s Ở KHOA HỌC VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái ni ệm ngân hàng th ươn g mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, với chức năng chủ yếu là làm trung gian tín dụng, trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp, các cá nhân trong nên kinh tế.63] Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về Ngân hàng thương mại. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác thì “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [9] Tại Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá 12 thông qua ngày 16/6/2010, định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”, và định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. [20] Từ những nhận định trên ta có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa ạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Vốn tiền gửi và vai trò của vốn tiền gửi tạ i ngâ n hàng th ươn g mại Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế thị trương nói chung thì vốn là các tài sản trong xã hội được đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai.
Với NHTM thì vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được để tiến hành các hoạt động cho vay, đầu tư hoặc các dịch vụ kinh doanh khác nhằm đạt được mục tiêu khác nhau. Biểu hiện của vốn trong kinh doanh ngân hàng chủ yếu là tiền.Vốn của ngân hàng cũng có thể thuộc quyền sở hữu của chủ ngân hàng hoặc vay từ bên ngoài. Việc sử dụng vốn phải đáp ứng yêu cầu lợi nhuận và an toàn. Huy động vốn là trong những hoạt động chính của NHTM.
Đây là hoạt động tìm kiếm các nguồn tài trợ, là hoạt động tiền đề để tiến hành các hoạt động khác.2, Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại. Nguồn vốn của NHTM bao gồm: - Vốn chủ sở hữu: Hay còn gọi là vốn tự có là vốn riêng của NHTM, đây là số vốn ban đầu và được gia tăng không ngừng cùng với quá trình phát triển của NHTM. Về phương diện quản lý, vốn tự có là số vốn tối thiểu, bắt buộc một NHTM phải có để được cấp giấy phép kinh doanh, đồng thời là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác.40] Nguồn vốn tự có có vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng với những chức năng: Chức năng bảo vệ, chức năng đảm bảo thanh toán, chức năng hoạt động. Vốn tự có của NHTM được chia thành các khoản mục: Vốn điều lệ, vốn tự có bổ sung và các quỹ ngân hàng.
Vốn điều lệ: Là vốn tự c ban đầu khi thành lập ngân hàng, vốn điều lệ của NHTM mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM nhưng nó lại mang tính ổn định cao và có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Vốn tự c bổ sung và c c uỹ ngân hàng hình thành hi ngân hàng đi vào hoạt động,có thể có vốn tự có bổ sung do Nhà nước cấp, do việc bán thêm cổ phần, nhưng chủ yếu được trích qua lợi nhuận của ngân hàng trong quá trình kinh doanh. Với tầm quan trọng trong việc chống đỡ những rủi ro ngân hàng, NHNN thường quyết định mức vốn tự có tối thiểu khi thành lập hoặc NHTM chỉ được huy động vốn không quá bội số nhất định của vốn tự có.41-44] - Vốn huy động: Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn khoảng 70% - 80% trong tổng nguồn vốn của bất kỳ một NHTM nào. Vì vậy huy động vốn đươc coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào.46] - Vốn đí vay: Vốn đi vay là vốn giúp cho các NHTM bổ sung nguồn vốn ngăn hạn của mình để đảm bảo duy trì hoạt động một cách bình thường.
Vốn đi vay được phân thành hai nh m sau đây: + Vốn đi vay ngân hàng Nhà nước: Vay qua hình thức tái cấp vốn như chiết khấu, tái chiết khấu chứng từ có giá, vay cầm cố chưng từ có giá, cho vay lại hồ sơ tín dụng. Vay thanh toán: Khi các NHTM tham gia hệ thống thanh toán bù trừ nếu ngân hàng nào thiếu vốn để thanh toán thì sẽ được NHNN cho vay để đảm bảo các khoản giao dịch thanh toán bù trừ được thực hiện. + Vốn đi vay các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác: Là loại cho vay l n nhau giữa c c ngân hàng theo phương thức tự vay tự trả. Phương thức này rất linh hoạt giúp các NHTM cân đối vốn một cách kịp thời.51-52] - Vốn khác : Như vồn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư, các nguồn vốn khác trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Đây là những khoản vốn ngân hàng nhận được từ chính phủ, các tổ chức chính trị, các ngân hàng lớn. tài trợ cho các dự án phát triển. Vai trò của hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất inh oanh được thì phải có : Công nghệ - Lao động - Tiền vốn. Trong đó vốn là nhân tố quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh.
Riêng đối với NHTM vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh. Đặc trưng của hoạt động ngân hàng thì vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Vì vậy huy động vốn không những được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhất là trong giai đoạn kinh tế hội nhập hiện nay, cụ thể là: - Đối với nền kinh tế: Chức năng huy động nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất. Nhờ đó, ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Đối với ngân hàng: Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu để thực hiện các nghiệp vụ sinh lời của ngân hàng như cho vay, đầu tư, cung cấp các dịch vụ thanh toán,. Quy mô nguồn vốn tiền gửi thể hiện năng lực tài chính và uy tín của ngân hàng. Nguồn vốn huy động càng lớn thể hiện năng lực tài chính mạnh mẽ và sự tin tưởng của khách hàng vào ngân hàng, góp phần củng cố vị thế của ngân hàng trên thị trường. - Đối với người gửi tiền: Khi gửi tiền vào ngân hàng, ngoài tính chất an toàn, khách hàng còn được hưởng các dịch vụ thanh toán an toàn, nhanh chóng, tiện lợi như thanh to án séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thanh toán qua hệ thống máy ATM, thanh to án thông qua Internet,.
Đối với tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng được hưởng lãi và có thể tích lũy tiền để thực hiện mục đích nào đó cho tương lai. Không những thế, trong những trường hợp khách hàng gặp khó khăn về mặt tài chính, ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng bằng các hình thức cầm cố, chiết khấu sổ tiết kiệm, cho vay, bảo lã n h ,. Các hình thức huy động vốn tiền gửi 1. Phân loại huy động vốn tiền gửi căn cứ theo thời gian - Huy động ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các NHTM thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, Tiền gửi thanh toán (TGTT),.
Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém. - Huy động trung hạn: Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện, tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao.
- Huy động dài hạn: Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên) do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao. Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động - Huy động vốn từ dân cư: Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh.