Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ LÝ ĐƠN THƯ BẠN ĐỌC TẠI CƠ QUAN BÁO IN 1. Một số khái niệm 1. Xử lý Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ “xử lý”. Có thể kể ra một số quan niệm tiêu biểu như: Xử lý hiểu theo nghĩa là động từ thì có những cách hiểu như sau: (1) Làm cho chịu những tác động vật lí, hóa học nhất định để biến đổi hợp với mục đích.
Ví dụ như: xử lý hạt giống bằng thuốc trừ sâu; xử lý vết thương trước khi đưa tới bệnh viện; (2) Áp dụng vào cái gì đó những thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng. Ví dụ như quá trình xử lý thông tin; (3) Xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ phạm lỗi nào đó. Ví dụ xử lý nghiêm minh những vụ vi phạm pháp luật. Theo Từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê biên soạn, “xử lý” là áp dụng những thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng” [45, tr.
Với quan niệm này, khái niệm xử lý được nhấn mạnh ở hành động và ý nghĩa của hành động đó. Như vậy, có thể hiểu xử lý là một quá trình phân tích, đối chiếu, so sánh, chế biến, cải tạo những vấn đề, sự việc hay thông tin thô, thông tin nền ban đầu trở thành một sự việc, hay thông tin mang một giá trị nào đó. Hiểu một cách thông thường trong lĩnh vực báo chí, việc xử lý đơn thư của bạn đọc là cải tạo những thông tin về các sự vật, hiện tượng, con người, xảy ra hàng ngày, hàng giờ trong tự nhiên và đời sống xã hội được bạn đọc phản ánh gửi về tòa soạn thành những thông tin báo chí để cung cấp đến độc giả những phương thức đặc trưng của báo. Đơn thư Theo Thông tư số 07/2014/TT-TTCP giải thích: “Đơn là văn bản có nội dung được trình bày dưới một hình thức theo quy định của pháp luật, gửi đến cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền để khiếu nại hoặc tố cáo hoặc kiến nghị, phản ánh” [57, tr.
Căn cứ pháp lý Điều 3 Luật bưu chính 2010 có định nghĩa: “Thư là thông tin trao đổi dưới dạng văn bản viết tay hoặc bản in, có địa chỉ nhận hoặc không có địa chỉ nhận, trừ ấn phẩm định kỳ, sách, báo, tạp chí” [63, tr. Thư, bức thư, lá thư hay thư từ, thơ. là một hình thức trao đổi thông tin gián tiếp bằng chữ viết (có thể có thêm hình ảnh, ký tự hoặc vật dụng đính kèm) giữa người viết thư và người nhận thư (đọc, xem thư) thông qua trung gian là người đưa thư (người đưa thư có thể là người làm dịch vụ vận chuyển, bưu điện, thông qua các hình thức như chim bồ câu, chim ưng. hoặc nhờ người khác).
Hình thức trao đổi thông tin cổ điển là bằng văn bản giấy được bỏ trong bao thư (hay bì thư), có dán tem và được gửi qua bưu điện. Hiện tại còn có hình thức hiện đại là thư điện tử (email) hoặc tin nhắn điện thoại). Như vậy “đơn” và “thư” có điểm tương đồng, đó đều là văn bản nhằm để trình bày một nội dung gì đó. Tuy nhiên, “đơn” mang tính chất nguyên tắc về trình bày; “thư” thì đơn giản hơn, không chú trọng theo nguyên tắc trình bày mà thường chú trọng nhiều hơn vào nội dung thông tin được trình bày trong đó.
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, xin được hiểu quan niệm về thuật ngữ “đơn thư là văn bản để trình bày một nội dung gì đó mà chủ thể muốn chuyển tải tới một cá nhân hay một tổ chức nào đó”. Đơn thư có thể trình bày đúng quy chuẩn của đơn, nhưng cũng có thể chỉ dừng lại ở việc chuyển tải một nội dung nào đó theo cách trình bày, suy nghĩ của cá nhân người viết – nghĩa là chú trọng nhiều đến yếu tố nội dung. Theo Khoản 3, Điều 2 Quy định 14-QĐ/UBKTTW năm 2014 tiếp 16 c nhận, xử lý đơn thư, tiếp đảng viên và công dân của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thì nội dung này được quy định như sau: “Đơn thư bao gồm đơn thư khiếu nại kỷ luật đảng; đơn thư tố cáo của đảng viên và công dân về việc của tổ chức đảng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân; đơn thư kiến nghị, phản ánh về công tác xây dựng Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước gửi đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương” [46, tr. 1] Như vậy, từ khái niệm này có thể phân biệt các loại đơn thư liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và phản ánh như sau: Đơn thư khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Đơn thư tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Như vậy, trước hết sự phân biệt giữa đơn có nội dung khiếu nại và đơn có nội dung tố cáo được thể hiện ở bản chất, đó là đơn có nội dung khiếu nại nhằm hướng tới lợi ích, đòi lại lợi ích mà chủ thể khiếu nại cho là họ đã bị xâm phạm; còn mục đích của đơn có nội dung tố cáo là hướng tới việc xử lý hành vi vi phạm và người có hành vi vi phạm. Bản chất này chi phối toàn bộ các quy định của pháp luật và thái độ đối với hai loại này. Đơn thư phản ánh là việc cá nhân, tổ chức có ý kiến với cơ quan hành chính nhà nước về những vấn đề liên quan đến quy định hành chính, bao gồm: 17 c những vướng mắc cụ thể trong thực hiện; sự không hợp pháp, không hợp lý, không đồng bộ, không thống nhất với hệ thống pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và những vấn đề khác.
Đơn thư kiến nghị là việc cá nhân, tổ chức có phản ánh với cơ quan hành chính nhà nước và đề xuất phương án xử lý hoặc có sáng kiến ban hành mới quy định hành chính liên quan đến hoạt động kinh doanh, đời sống nhân dân. Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng xấu (có thể bị thiệt hại cụ thể về vật chất) ở đây không nhất thiết là của người hoặc tổ chức kiến nghị, mà có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung của nhiều người, của công đồng dân cư theo khu vực hoặc của nhiều cơ quan, tổ chức. Nội dung phản ánh, kiến nghị: Phản ánh về hành vi: những vướng mắc cụ thể trong thực hiện quy định hành chính do hành vi chậm trễ, gây phiền hà hoặc không thực hiện, thực hiện không đúng quy định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của cán bộ, công chức. Phản ánh về nội dung quy định hành chính, gồm: sự không phù hợp của quy định hành chính với thực tế; sự không đồng bộ, không thống nhất của các quy định hành chính, quy định hành chính không phù hợp với pháp luật.
Điểm khác nhau cơ bản giữa đơn kiến nghị và phản ánh: Đối với đơn phản ánh, hầu hết những vụ việc phát sinh do công dân, tổ chức phát hiện và phản ánh với cơ quan chức năng; và qua phản ánh của công dân, tổ chức thì cơ quan chức năng mới nắm bắt được. Vụ việc phát sinh phản ánh có thể do con người (chủ thể quản lý) hoặc do khách quan như thiên tai… gây ra. Đối với đơn kiến nghị, vụ việc phát sinh kiến nghị chủ yếu do con người hoặc do cơ quan chức năng thực hiện chưa đúng, đủ buộc công dân phải làm đơn. Có thể thấy rằng đơn thư có nhiều loại nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu 18 c này do điều kiện có hạn, tác giả luận văn xin phép chỉ nghiên cứu đơn thư dưới dạng đơn thư khiếu nại.
Bạn đọc Theo Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, Nxb Đà Nẵng, 2008 định nghĩa “độc giả là người đọc sách báo, trong quan hệ với tác giả, nhà xuất bản, cơ quan báo chí, thư viện. Nghĩa của từ độc giả đồng nghĩa với bạn đọc. Ví dụ: nhận được thư góp ý của độc giả; sách được tái bản theo yêu cầu của độc giả” [59, tr. Trong lĩnh vực truyền thông báo chí, độc giả - những công chúng cụ thể, là bộ phận công chúng thực tế tiếp nhận thông tin báo chí hoặc được báo chí nhằm hướng vào để tác động.
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xin được dùng khái niệm bạn đọc để thực hiện nghiên cứu của mình. Báo in Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là một bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng [18, tr. Báo in là một trong bốn loại hình của báo chí (báo in, báo phát thanh, báo chí truyền hình, báo điện tử); là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng kí hiệu, chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng – nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định [19, tr. Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2001.
Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội. Trong trường hợp này, thuật ngữ báo in được dùng để chỉ hai bộ phận: báo và tạp chí. Theo Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ Quy 19 c định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật báo chí thì “báo chí” là tên gọi chung đối với các loại hình báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử. Theo đó, “báo in” là tên gọi loại hình báo chí được thực hiện bằng phương tiện in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn).