mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, chuyên đề đƣợc tổ chức thành ba chƣơng, có nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp hành chính và phƣơng pháp bồi dƣỡng kỹ năng giao tiếp hành chính. Thực trạng kỹ năng giao tiếp hành chính công của cán bộ, công chức tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.giang TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang Chƣơng 3. Phƣơng pháp bồi dƣỡng kỹ năng giao tiếp cho cán bộ, công chức huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.giang TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP HÀNH CHÍNH VÀ PHƢƠNG PHÁP BỒI DƢỠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP HÀNH CHÍNH CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Ở nƣớc ngoài Những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và phƣơng pháp bồi dƣỡng kỹ năng giao tiếp, cũng nhƣ đặc điểm học tập của ngƣời trƣởng thành đƣợc trình bày qua các công trình nghiên cứu sau đây: Trƣớc tiên, việc nghiên cứu về tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp thu hút đƣợc sự quan tâm của một số tác giả, nhƣ: Dale Carnegie, Paul Rankin, Jurgen Ruesch.
Với tác phẩm Đắc nhân tâm, tác phẩm hay nhất về nghệ thuật giao tiếp và ứng xử và đƣợc chuyển ngữ hơn 45 quốc gia, Dale Carnegie (1936) cho thấy “thành công của một ngƣời thƣờng chỉ có 15% vào kiến thức chuyên môn, còn lại 85% phụ thuộc vào nhân cách, sự khéo léo, tế nhị trong giao tiếp”. Ngoài ra, Rockefeller cũng nói rằng “Nếu có thể mua đƣợc khả năng đối nhân xử thế, thì tôi sẵn sàng dốc hết hầu bao của mình, vì đây chính là điều quan trọng hơn bất cứ điều gì khác trên đời” (trích trong Dale Carnegie, 1936). Bên cạnh đó, nghiên cứu của Paul Rankin cho thấy rằng, “Trong tổng số thời gian giao tiếp ngƣời ta thƣờng dành 45% thời gian cho việc nghe, 55% thời gian còn lại dành cho việc nói, đọc và viết” (dẫn theo Vũ Huy Từ, 2009, tr. Ngoài ra, còn có tác giả quan tâm đến khó khăn trong giao tiếp, nhƣ tác giả Jurgen Ruesch và cộng sự; đã nhấn mạnh vấn đề khó khăn trong giao tiếp thƣờng tập trung vào những gì cá nhân suy nghĩ, không tập trung vào những gì cá nhân nói hay viết.
Công việc của giao tiếp, là xóa đi khoảng cách trong suy nghĩ giữa ngƣời này và ngƣời khác trong việc dùng ngôn ngữ. Tác giả còn đƣa ra các yếu tố quan trọng, giúp thể hiện đƣợc tác động của xã hội và ý định của ngƣời khác trong giao tiếp nhƣ hoàn cảnh xã hội, vai trò, vị trí, những nguyên tắc và luật lệ (dẫn theo Huỳnh Văn Sơn, 2011) 7 (LUAN.giang TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang Những nghiên cứu về bồi dƣỡng kỹ năng giao tiếp cho ngƣời lớn, còn khá khiêm tốn; mặc dù, ngƣời nghiên cứu đã dùng những từ khoá liên quan đến “training methods for adult learners” hay “communication skill training methods” trong trình duyệt google scholars hay google và các cơ sở dữ liệu online của một số nhà xuất bản trên thế giới. Một số kết quả có đƣợc, cho tổng quan nội dung này nhƣ sau: Sách “Dạy và học kỹ năng giao tiếp trong ngành y” của Suzanne Kurtz (1998), cung cấp một cách tiếp cận toàn diện để cải thiện giao tiếp trong ngành Y. Nội dung của sách, trình bày các vấn đề liên quan đến việc xây dựng một khoá đào tạo về kỹ năng giao tiếp, cũng nhƣ trình bày các phƣơng pháp dạy, học, đánh giá đang sử dụng trong đào tạo kỹ năng giao tiếp của ngành Y.
Các nội dung và ví dụ cụ thể đƣợc lấy từ lĩnh vực y khoa nên cũng khó để áp dụng cho các lĩnh vực khác, nhƣ lĩnh vực hành chính công. Bên cạnh đó, tác giả Robert. Birkenholz (1999) đã đƣa ra đƣợc 4 mục tiêu học tập của ngƣời học và 11 phƣơng pháp bồi dƣỡng kỹ năng hiệu quả và phù hợp với các đặc điểm là cán bộ công chức, viên chức lớn tuổi và có nhiều kinh nghiệm trong công việc. Theo đó, tác giả Vicki A.
Jackson và Anthony L. Back (2011) cho rằng, cần phải đánh giá nhu cầu học tập của các cá nhân và chọn lựa nội dung giáo tiếp đồng thời xây dựng đƣợc môi trƣờng học tập an toàn. Đây cũng là những phƣơng pháp hiệu quả để bồi dƣỡng kỹ năng giao tiếp cho ngƣời học mà tác giả Vicki A. Jackson và Anthony L.
Trong bài viết Dạy kỹ năng giao tiếp sử dụng phƣơng pháp đóng vai: Những hƣớng dẫn dựa trên kinh nghiệm dành cho các nhà giáo dục các tác giả Vicki A. Jackson và Anthony L. Back (2011), chỉ ra giảng dạy kỹ năng giao tiếp nâng cao, đòi hỏi các nhà giáo dục không chỉ là những ngƣời giao tiếp xuất sắc, mà còn có khả năng phân chia các phân tách các thành phần của sự tƣơng tác và phát triển một cách tiếp cận, nhận thức có thể sử dụng trên các nhóm đối tƣợng ngƣời học, các loại nội dung và ở những thời điểm tổ chức dạy học. Qua đó, ngƣời học phát triển kỹ năng tự suy tƣởng trong môi trƣờng học tập “an toàn” và hiệu quả.
Việc sử dụng 8 (LUAN.giang TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang phƣơng pháp đóng vai trong các nhóm nhỏ, giúp ngƣời học đặt ra các mục tiêu thực tế và giúp ngƣời dạy biết khi nào và bằng cách nào, cung cấp phản hồi cho ngƣời học, nhằm giúp hình thành nên kỹ năng và khuyến khích hoạt động tự nhận thức của ngƣời học. Một thách thức đặt ra trong phƣơng pháp này, là làm sao tránh đƣợc sự lo lắng của ngƣời học. Horng-Ji Lai (2011) lại quan tâm đến ảnh hƣởng của sự sẵn sàng tự học (self-directed learning readiness), sự hiểu biết về mạng lƣới (network literacy) lên hiệu quả học tập qua mạng của công chức hành chính tại Đài Loan. Nghiên cứu đƣợc thực hiện trên 283 mẫu khảo sát đã chỉ ra rằng, có mối quan hệ thuận giữa sự sẵn sàng tự học và sự hiểu biết về mạng lƣới.
Tuy nhiên, các công chức hành chính lại không đánh giá cao hiệu quả của việc thảo luận bằng hình thức qua mạng. Ngoài ra, các biến số học tập chủ động, sự yêu thích học tập, học tập độc lập, kỹ năng internet và đánh giá thông tin, có ảnh hƣởng đến hiệu quả học tập qua mạng của công chức hành chính tại Đài Loan. Đặc biệt sự sẵn sàng tự học, đƣợc xem là yếu tố quan trọng nhất cho việc xác định sự thành công cho học tập qua mạng từ kết quả cuộc nghiên cứu này. Qua tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan cho thấy, hình thức học tập qua mạng nổi lên nhƣ là hình thức tổ chức dạy học đƣợc ƣa thích, để đáp ứng nhu cầu đào tạo và phát triển cho các tổ chức chính quyền.
Học tập qua mạng, đƣợc xem nhƣ một phƣơng tiện đào tạo không bị ràng buộc về thời gian và tiết kiệm chi phí đào tạo cho việc học tập suốt đời của ngƣời lớn, đặc biệt các công chức hành chính ở các địa phƣơng khác nhau của một quốc gia. Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, đã xây dựng hệ thống đào tạo qua mạng dành cho công chức hành chính, nhằm cung cấp các khoá đào tạo cho số đông. Chẳng hạn, nhƣ: Virtual School của Học viện Chính phủ quốc gia của Anh, Golearn của Liên bang Chính phủ Hoa Kỳ, Campusdirect của Trƣờng dịch vụ công Canada hay Open Academy của trƣờng Dịch vụ công Singapore. Tuy nhiên, để tham gia vào các chƣơng trình học tập qua mạng, yêu cầu học viên phải có kỹ năng về Tin học và vi tính.
Hiện nay các nghiên cứu, phần lớn tập trung vào tìm hiểu khía cạnh kỹ thuật trong đào tạo qua mạng, có 9 (LUAN.giang TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang rất ít nghiên cứu quan tâm đến phƣơng diện sƣ phạm và thiết kế chƣơng trình trong tổ chức đào tạo qua mạng (Horng – Ji Lai, 2011). Nội dung về đặc điểm học tập của ngƣời lớn, đƣợc nhiều tác giả đề cập đến trong các công trình nghiên cứu sau đây: Một nghiên cứu của Lave (1988) kết luận rằng, việc học của ngƣời lớn là quá trình tái diễn những hành động và tƣơng tác trong các tình huống, mà ngƣời lớn trải qua trong xã hội. Trong nghiên cứu này, tác giả thiết kế phiên bản “trƣờng học” cho việc dạy tính toán các vấn đề mang tính toán học. Những học viên này, đƣợc quan sát và phỏng vấn về cách họ sử dụng cùng một loại phƣơng trình toán học trong tình huống thật tại cửa hàng bách hoá.
Tác giả nhận ra rằng, các món hàng trong cửa hàng bách hoá, phiếu mua hàng và những điều xảy ra trong cửa hàng bách hoá, thực sự trở thành công cụ cho việc giải quyết vấn đề toán học, trong đó cửa hàng bách hoá và các tƣơng tác xã hội với cách khách hàng khác hoặc nhân viên cửa hàng là bối cảnh xã hội cho việc học diễn ra. Nhƣ vậy có thể thấy rằng chính bối cảnh thực, nơi xảy ra các mối quan hệ xã hội và các công cụ trong bối cảnh đó, đã tạo ra môi trƣờng học tập tốt nhất. Trong một bài viết về các cách tiếp cận cho việc học ngƣời lớn Clark đã đề xuất hai cách tiếp cận, là học tập hiện thân (Embodied Learning) và học tập thông qua tự truyện (Narrative Learning). Theo lý thuyết về học tập dựa trên bối cảnh, thì việc học của ngƣời lớn xảy ra khi công cụ và bối cảnh giao thoa với sự tƣơng tác giữa ngƣời học với nhau.
Điều này còn có nghĩa rằng việc học của ngƣời lớn xảy ra trong môi trƣờng học tập, chỉ trình bày lý thuyết suông. Theo nhà tâm lý học Vygotsky, ngƣời tiên phong trong lý thuyết học tập văn hoá xã hội cho rằng, hoạt động của con ngƣời diễn ra trong bối cảnh văn hoá với sự tƣơng tác ở nhiều mức độ khác nhau, chia sẻ niềm tin, giá trị, kiến thức, kỹ năng, mối quan hệ và hệ thống biểu tƣợng. Các tƣơng tác và hoạt động xảy ra, thông qua việc sử dụng các công cụ kỹ thuật nhƣ: máy tính, thiết bị; hay yếu tố tâm lý nhƣ: ngôn ngữ, viết, chiến lƣợc học tập thông qua môi trƣờng văn hoá.giang TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang Ý tƣởng chính xung quanh lý thuyết học tập dựa trên bối cảnh chính là việc học mang tính xã hội. Sự tƣơng tác giữa ngƣời học, các công cụ đƣợc sử dụng trong quá trình tƣơng tác, các hoạt động và bối cảnh diễn ra các hoạt động, sẽ giúp hình thành nên việc học cho con ngƣời.
Theo kết quả nghiên cứu của William Marston (Mỹ) cho thấy, đặc tính hành vi của con ngƣời có 4 nhóm tính cách.