Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC 1. Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, tôi đã nghiên cứu và làm rõ những khái niệm liên quan đến tuyển dụng, doanh nghiệp. Cụ thể như sau: 1. Khái niệm doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Thuật ngữ doanh nghiệp được sử dụng đầu tiên ở nước ta từ năm 1948, theo tinh thần của Sắc lệnh số 104/SL ngày 01.1948 về doanh nghiệp quốc gia. Trong suốt thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thuật ngữ này bị lãng quên, các thuật ngữ thay thế thường được sử dụng là xí nghiệp, đơn vị kinh tế, cơ quan kinh tế…Theo tỉnh thần của Luật công ty năm 1990 hay Luật doanh nghiệp năm 1999, thuật ngữ doanh nghiệp được xác định là một thực thể pháp lí được thành lập và đăng kí kinh doanh nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Căn cứ khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp, ngày 17 tháng 6 năm 2020, khái niệm Doanh nghiệp được hiểu chính xác như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Theo khoản 1 điều 111 tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng đề cập tới khái niệm công ty cổ phần như sau: Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp, trong đó: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này; 6 Luan van Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty 1. Khái niệm công nghệ thông tin (CNTT). Khi nghiên cứu và tìm kiểu khái niệm CNTT, có nhiều cách tiếp cận của nhiều tác giả và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Công nghệ thông tin, tên tiếng Anh là Information technology hoặc IT là một ngành kỹ thuật máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và quy định trong Nghị Quyết của Chính phủ, nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 như sau“Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" 1. Khái niệm nhân lực và nhân sự. Trong các công trình nghiên cứu và giáo trình về lĩnh vực quản trị nhân lực, khái niệm nhân lực được nhiều tác giả tiếp cận theo nhiều phương diện. Theo cách tiếp cận của tác giả Lê Thanh Hà trong Giáo trình Quản trị nhân lực (2009) khái niệm nhân lực được đề cập như sau: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người.
Nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc.” [5,tr8] Còn theo Giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Vũ Thùy Dung và Bùi Hoàng Hải:“Nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp), tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.” [6,tr16] Khi tiếp cận và tìm hiểu về khái niệm nhân sự, tại Giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính nhà nước của Học viện Hành chính quốc gia đã đề cập như sau: 7 Luan van d“Nhân sự là một từ thường được sử dụng khi nghiên cứu vấn đề về sử dụng nguồn nhân lực.” [11,tr12] Qua phân tích của giáo trình này thì nhân sự có hàm ý hiểu là những người đang làm việc trong tổ chức. Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu và phân tích các khái niệm về nhân sự, nhân lực của các tác giả và các công trình nghiên cứu, ta có thể thấy được sự khác nhau giữa hai khái niệm nhân sự và nhân lực. Nếu như nhân lực được hiểu là các tiềm năng về trí lực và thể lực, nguồn lực trong con người, thì nhân sự mang nghĩa hẹp hơn nhưng theo thiên hướng về con người và quản lý con người hơn.
Nhân sự là những người hay nhóm người đang làm việc trong tổ chức, chịu sự quản lý từ phía tổ chức. Khái niệm tuyển dụng Có nhiều cách tiếp cận khái niệm tuyển dụng theo nhiều phương diện khác nhau. Tại Khoản 4, Điều 3, Luật Viên chức năm 2010, khái niệm tuyển dụng được hiểu “là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.” Khi nghiên cứu về hoạt động tuyển dụng trong các doanh nghiệp, một số công trình nghiên cứu, giáo trình của các tác giả cũng tiếp cận khái niệm tuyển dụng như sau: Theo Nguyễn Thanh Hội “Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm và lựa chọn đúng người để thỏa mãn các nhu cầu lao động và bổ sung cho lực lượng lao động hiện có” Hoặc theo cách tiếp cận của tác giả Bùi Văn Danh, Nguyễn Văn Dung, Lê Quang Khôi (2011) tại giáo trình Quản trị nguồn nhân lực “Tuyển dụng là quá trình lực chọn các cá nhân có đủ điều kiện cần thiết để đảm nhận các công việc trong tổ chức, tuyển dụng không chỉ là chọn người tốt nhất có được mà chọn người có tập kiến thức - kỹ năng - năng lực phù hợp giữa ứng viên và tổ chức”. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả lựa chọn cách tiếp cận khái niệm tuyển dụng theo tác giả Bùi Văn Danh, Nguyễn Văn Dung, Lê Quang Khôi (2011) tại giáo trình Quản trị nguồn nhân lực.
Khái niệm tuyển dụng nhân lực. Trên thực tế, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm tuyển dụng nhân lực. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân “Tuyển dụng nhân lực là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội, lực lượng bên trong tổ chức và đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc để tìm được người phù hợp với các yêu cầu đặt ra” [1,tr93] Hay theo cách tiếp cận của Mai Thanh Lan trong giáo trình Tuyển dụng nhân lực (2014) “ Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm thu hút và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp” [2,tr12] 1. Khái niệm, tầm quan trọng của tuyển mộ 1.
Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức. Mọi tổ chức phải có đầy đủ khả năng để thu hút đủ số lượng và chất lượng lao động để nhằm đạt được các mục tiêu của mình. Tầm quan trọng của tuyển mộ. Quá trình tuyển mộ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình tuyển chọn.
Trong thực tế sẽ có người lao động có trình độ cao nhưng họ không được tuyển chọn vì họ không biết các thông tin tuyển mộ hoặc họ không đạt được như các yêu cầu mong muốn nếu như số lượng người nộp đơn xin việc bằng hoặc ít hơn số nhu cầu cần tuyển chọn. Công tác tuyển mộ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. Tuyển mộ không chỉ ảnh hưởng đến việc tuyển chọn mà còn ảnh hưởng tới các chức năng khác của quản trị nguồn nhân lực như: Đánh giá tình hình thực hiện công việc, thù lao lao động, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, các mối quan hệ lao động…. Khái niệm, tầm quan trọng của tuyển chọn.
Khái niệm 9 Luan van Tuyển chọn là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút trong qua trình tuyển mộ. Cơ sở của tuyển chọn là các yêu cầu của công việc đã được đề ra theo bản mô tả công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc. Quá trình tuyển chọn là khâu quan trọng nhằm giúp cho các nhà quản trị nhân lực đưa ra được các quyết định tuyển dụng một cách đúng đắn nhất, quyết định tuyển chọn có ý nghĩa rất quan trọng đối với chiến lược kinh doanh của tổ chức. Quá trình tuyển chọn là một quy trình gồm nhiều bước, mỗi bước trong quá trình được xem là một hàng rào chắn để sàng lọc loại bỏ những ứng viên không đủ các điều kiện đi tiếp vào các bước sau.
Khi lên kế hoạch các bước trong tuyển dụng phải đặc biệt chú ý cần thiết kế để thu được nhiều thông tin đặc trung nhất và đáng tin cậy, từ đó đưa ra quyết định tuyển dụng hay không. Tầm quan trọng của tuyển chọn. Quá trình tuyển chọn là khâu quan trọng nhằm giúp cho các nhà quản trị nhân lực đưa ra được các quyết định đúng đắn nhất. Quyết định tuyển chọn có ý nghĩa rất quan trọng đối với các chiến lược kinh doanh và đối với các tổ chức, bởi vì quá trình tuyển chọn tốt sẽ giúp cho các tổ chức có được những con người có kỹ năng phù hợp với sự phát triển của tổ chức trong tương lai.
Tuyển chọn tốt cũng sẽ giúp cho tổ chức giảm được chi phí do phải tuyển chọn lại, đào tạo lại cũng như tránh được các thiệt hại rủi ro trong quá trình thực hiện các công việc. Để tuyển chọn đạt được kết quả cao thì cần phải có các bước tuyển chọn phù hợp, các phương pháp thu thập thông tin chính xác và đánh giá các thông tin 1 cách khoa học. Các nguyên tắc trong tuyển dụng.