CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ Căn cứ theo điều 6 tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 11/03/2018, hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNVVN được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng 5 hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngoài những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, DNVVN còn có những đặc điểm riêng biệt như sau: Thứ nhất, DNVVN có quy mô hoạt động SXKD và tiềm lực nhỏ. Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động không nhiều thì rõ ràng, quy mô của các DNVVN là tương đối nhỏ. Điều này mang lại một số lợi thế cho doanh nghiệp như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh., từ đó tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà các doanh nghiệp lớn để lại. Bên cạnh những thuận lợi, các DNVVN cũng còn nhiều hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu.
Và vì vậy, các DNVVN thường không đạt được lợi thế về quy mô như các doanh nghiệp lớn. Mặt khác, quy mô nhỏ cùng thông tin thiếu minh bạch cũng khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động vốn từ phía các ngân hàng hay từ thị trường chứng khoán. Vì vậy, các DNVVN phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và phần lợi nhuận giữ lại. Đối với các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, nguồn tài trợ này không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp do hạn chế về thủ tục vay vốn, phương án SXKD chưa hoàn thiện, TSBĐ chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng.
Thứ hai, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề lĩnh vực kinh doanh phong phú. DNVVN hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,. trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Thứ ba, chiến lược SXKD, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế.
Nhiều DNVVN thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp. Đa phần các DNVVN chỉ xây dựng các kế hoạch SXKD mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Do đó, DNVVN thường có xu hướng đi chệch ra khỏi mục tiêu ban đầu và thiếu sự điều chỉnh kịp thời, hợp lý. Trong thời đại mới, khoa học công nghệ luôn được đề cao và ngày càng trở nên quan trọng khi giúp cho các doanh nghiệp tăng hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tạo tiện ích cho người sử dụng.
Tuy nhiên, các DNVVN do có quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới máy 6 móc thiết bị, quy trình sản xuất không được thường xuyên, dẫn tới xu hướng rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém. Thứ tư, hoạt động của DNVVN phụ thuộc nhiều vào biến động của môi trường KD. Quy mô vốn thấp, hoạt động SXKD mang tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn dẫn đến mức độ đa dạng hóa HĐKD và tính ổn định của DNVVN tương đối thấp. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNVVN.
Tuy vậy, với quy mô nhỏ, DNVVN cũng có thể dễ dàng chuyển hướng SXKD, tăng giảm lao động, thậm chí di chuyển địa điểm sản xuất dễ dàng hơn các doanh nghiệp lớn để thích nghi với những thay đổi của thị trường. Thứ năm, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao, tuy nhiên năng lực quản trị chưa cao. Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNVVN tương đối gọn nhẹ, không có quá nhiều các khâu trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc đưa ra các quyết định nhanh chóng kết hợp với việc thiếu nghiên cứu tình hình thị trường thường dẫn tới rủi ro cho doanh nghiệp khi các quyết định đưa ra thiếu tính chuẩn xác. Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giai đoạn cao hơn.
Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau: Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn, “Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong 7 một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán”. Theo luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Bản chất của tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để KH sử dụng một lượng tài sản bằng tiền, bằng tài sản hay uy tín với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các dịch vụ tài chính khác. Như vậy, từ khái niệm trên có thể rút ra được đặc điểm của tín dụng ngân hàng: - Tín dụng phải dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa bên cho vay và bên đi vay. Chỉ khi nào người cho vay thực sự tin tưởng vào sự sẵn lòng và khả năng trả nợ của người đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới được thiết lập. Đây chính là điều kiện tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng.
Mặt khác, người vay cũng tin vào hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình. - Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng tài sản của ngân hàng cho người đi vay, trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi. - Sau một thời gian như đã thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị gồm cả gốc và lãi. Phần chênh lệch này là giá của việc sử dụng quyền sử dụng vốn của người khác.
Do vậy, nó phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. - Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro. Đó là do sự mất cân xứng về thông tin của khách có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Rủi ro đó ngoài những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng và khách hàng, còn có những nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị trường, chu kì kinh tế, sự thay đổi của chính sách, những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch hoạ.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với khách hàng DNVVN Thứ nhất, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của các DNVVN, đảm bảo cho hoạt động của các DNVVN được liên tục.