CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 1. KHÁI NIỆM VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG THUỘC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC.1 Khái niệm về thanh tra, giám sát ngân hàng.1 Khái niệm về thanh tra, giám sát. - Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La tinh (inspectorate) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Theo từ điển pháp luật Anh - Việt, thanh tra “là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”(1).
Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”(2). Theo Từ điển tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”(3). Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”(4). Thanh tra thường đi kèm với một chủ để nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra” “đoàn thanh tra của bộ”(5) và: “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”(6).
Trong cuốn “Kỷ yếu Bác Hồ với thanh tra”, thanh tra được hiểu là “sự xem xét, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước”. Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, thanh tra, hoạt động của các tổ chức, Thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước. Điều 8 Pháp lệnh thanh tra năm 1990 quy định: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra, 1 Từ điển Pháp luật Anh - Việt. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, Tr.203 2 Từ điển Luật học.
NXB Orbis Bonn 1990 (tiếng Đức).528 3 Từ điển tiếng Việt. NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1994, Tr.882 4 Từ điển tiếng Việt.504 5 Từ điển tiếng Việt.882 6 Từ điển tiếng Việt.504 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com truy tố, xét xử của các cơ quan Điều tra, Kiểm sát, Toà án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh tế”. Luật thanh tra năm 2010 quy định: “hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Từ những phân tích trên có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động tự kiểm tra, xem xét của các cơ quan hành chính nhà nước, được thực hiện bởi chủ thế quản lý có thẩm quyền, nhằm đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
- Theo từ điển tiếng Việt, giám sát là “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không. Giám sát việc thi hành hiệp nghị. Hội đồng nhân dân giám sát mọi hoạt động của uỷ ban nhân dân cấp mình.” Giám sát là hoạt động của chủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống khác (trong những trường hợp cụ thể, có thể là không trực thuộc) tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu giám sát đó không nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc. Do vậy, trong bộ máy nhà nước ta, giám sát thường thể hiện là chức năng của các cơ quan quyền lực nhà nước, Toà án nhân dân và các tổ chức xã hội và công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, kỷ luật trong quản lý nhà nước.
Tóm lại, thanh tra có những điểm giống với hoạt động giám sát ở chỗ: đều là những phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước, đều có khách thể chung là hoạt động quản lý. Nhưng chúng có những điểm khác nhau ở tính chất quan hệ giữa chủ thể thực hiện với những đối tượng bị giám sát, thanh tra và do đó, chúng khác nhau ở cách thức và biện pháp tác động. Thanh tra thông thường được hiểu là hoạt động của bộ máy hành pháp tự kiểm tra, thanh tra chính mình. Do vậy, ở các cơ quan hành pháp thường tồn tại hình thức thanh tra, kiểm tra theo cấp, thanh tra của thủ trưởng (thanh tra nội bộ), Thanh tra nhà nước chuyên ngành.
Xác định phạm vi hoạt động của 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thanh là xác định ranh giới của việc sử dụng pháp luật thanh tra vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, vào sự phát triển của các quan hệ xã hội. Đồng thời, nó tạo điều kiện cho các hoạt động thanh tra đi đúng hướng, tránh sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ với các cơ quan nhà nước khác.2 Khái niệm về thanh tra, giám sát ngân hàng. Cũng như các ngành, lĩnh vực khác, bất kỳ một hoạt động quản lý nào, để đảm bảo cho những mục tiêu đạt được kết quả cao, nhất thiết phải tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra. Mục đích hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 qui định: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”. Trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoạt động có những đặc thù riêng, là lĩnh vực kinh tế hết sức nhạy cảm tác động vào tăng trưởng và ổn định kinh tế… Đặc biệt khi chuyển sang giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngành ngân hàng, hệ thống các tổ chức tín dụng có bước phát triển rất nhanh về quy mô và phạm vi hoạt động. Vì vậy, rủi ro đối với các tổ chức tín dụng trở nên đa dạng hơn. Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro và chấp nhận rủi ro, rủi ro cao lợi nhuận cao, rủi ro thấp lợi nhuận thấp, thậm chí lợi nhuận thấp tổ chức tín dụng vẫn có nguy cơ vấp phải rủi ro cao do quản trị rủi ro kém.
Rủi ro trong hoạt động luôn là mối đe dọa đến sự an toàn và phát triển bền vững của hệ thống các tổ chức tín dụng. Vì vậy, ngân hàng nhà nước thực hiện thanh tra, giám sát chuyên ngành về lĩnh vực ngân hàng. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát ngân hàng, phòng, chống rửa tiền. Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trình tự, thủ tục thanh tra, giám sát ngân hàng.2 Mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam số: 46/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 qui định: “Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.3 Đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng. Là tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác.1 Đối tượng thanh tra ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước thanh tra các đối tượng sau: 1.
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng; 2. Tổ chức có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không phải là ngân hàng; 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Đối tượng giám sát ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.