Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học với đề tài "Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở nước ta hiện nay", mã số 62 31 20 01, do nghiên cứu sinh Vũ Thị Như Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phùng Hữu Phú, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013.
Về tính cấp thiết, luận án chỉ rõ phản biện xã hội là một trong những động lực chính trị, tinh thần thúc đẩy sự phát triển xã hội, là hoạt động nằm trong tiến trình hoàn thiện thiết chế dân chủ và tối đa hóa nguồn trí tuệ, sức sáng tạo của các chủ thể xã hội tham gia vào quá trình ra quyết định. Ở Việt Nam, mọi đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đều hướng đến phục vụ lợi ích nhân dân; do đó, các chủ trương và chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi được nhân dân và các tổ chức xã hội phản biện nhằm khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng. Bản chất phản biện xã hội là phương thức phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện một đảng cầm quyền duy nhất. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2006) đã khẳng định chủ trương: Nhà nước ban hành và bổ sung pháp luật để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.
Khoảng trống nghiên cứu xuất phát từ thực tế: dù Đảng đã có chủ trương từ Đại hội X, nhưng đến thời điểm nghiên cứu, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vẫn chưa được chính thức thể chế hóa trong luật pháp; chưa hình thành cơ chế vận hành cụ thể; nhận thức xã hội và cán bộ về phản biện xã hội còn chưa đầy đủ, thậm chí còn e ngại, kỳ thị. Thực tiễn hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc mới ở những bước đi ban đầu, chất lượng phản biện còn thấp và chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới (hướng tới mục tiêu năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại).
Mục đích nghiên cứu của luận án là luận giải cơ sở khoa học của phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phản biện xã hội và tiêu chí đánh giá chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Khảo sát, phân tích thực trạng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình ban hành và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng và đánh giá chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cấp Trung ương (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam); cấp địa phương chỉ đề cập ở mức độ nhất định. Nghiên cứu chất lượng phản biện xã hội của một số thành viên cơ bản của Mặt trận (các đoàn thể chính trị - xã hội, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật...).
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu trong thời kỳ đổi mới từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đến nay, trong đó chủ yếu tập trung từ năm 2001 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2013).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo ba nhóm nội dung:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài:
- Tác phẩm Interpretation and Social Criticism (Chú giải và Phản biện xã hội) của Michael Walzer (Harvard University Press) xác lập khuôn khổ triết lý, chuẩn mực đạo đức của phản biện xã hội ở cấp độ vĩ mô (hình thành các hệ tư tưởng, lý thuyết xã hội) và cấp độ vi mô (phê bình, chỉ trích chính sách cụ thể).
- Công trình Political Theory and Feminist Social Criticism (2000) của Brooke A. Ackerly (Cambridge University Press) phân tích hạn chế của lý thuyết dân chủ thảo luận, đưa ra mô hình phản biện xã hội mang tính khả thi từ thực tiễn phong trào phụ nữ ở các nước thế giới thứ ba.
- Các công trình The Idea of Civil Society (1995) của Adam B. Seligman (Princeton University Press) và Civil Society (1995) của John A. Hall (Polity Press) luận chứng về sự hình thành xã hội công dân như một tất yếu khắc phục các khiếm khuyết của cả nhà nước và thị trường, nhấn mạnh chức năng lên tiếng đối với nhà nước.
- Các nghiên cứu của chủ nghĩa đa nguyên như The Governmental Process (1951) của David B. Truman và Dilemmas of Pluralist Democracy (1982) của Robert A. Dahl (Yale University Press) phân tích sự tương tác, kiềm chế và đối trọng giữa các nhóm lợi ích trong việc tác động đến quá trình hoạch định chính sách công.
- Các sách chuyên khảo về nhóm lợi ích: Interest Group Politics (2003) của Allan J. Cigler và Burdett A. Loomis; Interest-Group Politics in France (1987) của Frank L. Wilson; Mobilizing Interest Groups in America (1991) của Jack L. Walker Jr. mô tả vai trò của nhóm lợi ích trong "tam giác sắt quyền lực"; nghiên cứu của Richard L. Hall và Kris Miler (2001) về vận động cho lợi ích công; bài viết của Iris Marion Young (1989) trên Chicago Journals về điều kiện tự do ngôn luận, tự do liên hiệp trong phản biện; công trình của John D. McCarthy (1977) trên American Journal of Sociology về lý thuyết huy động nguồn lực và phong trào xã hội. Tác giả nhận xét: các công trình học giả nước ngoài hầu như không bàn riêng về vai trò phản biện của tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc, mà lồng ghép trong thể chế chính trị, chính sách công và xã hội công dân.
Thứ hai, các nghiên cứu trong nước về phản biện xã hội và phản biện xã hội của Mặt trận:
- Về lý luận chung: Cuốn sách Câu hỏi đặt ra từ cuộc sống: Phản biện xã hội (2002) của TS. Trần Đăng Tuấn (cùng các bài viết năm 2006, 2007 trên Tạp chí Cộng sản); cuốn Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền (2010) của Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Tường Văn khảo sát thực trạng phản biện tại Thành phố Hồ Chí Minh; bài nghiên cứu của TS. Hoàng Thị Ngân (2007) tại Viện Nghiên cứu xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; đề tài khoa học cấp nhà nước KX.10.04 (2009) do GS.TS. Trần Hậu làm chủ nhiệm nghiên cứu toàn diện về giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với hệ thống chính trị; các bài viết của Nguyễn Trần Bạt (2007), Nguyễn Chính Tâm (2007), TS. Hoàng Hải (2007), Trương Thị Hồng Hà (2007), Diệp Văn Sơn (2007), Quý Hiền (2009), Tương Lai (2009), Chu Thanh Tâm (2009), Trần Quang Hải (2009), Nguyễn Hòa Bình (2010), Phan Đình Diệu (2011), TS. Phạm Minh Trí (2012), Phạm Quang Tú và Đặng Hoàng Giang (2012).
- Về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc: Luận án tiến sĩ Chính trị học của Nguyễn Thọ Ánh (2010) tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh về thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận; đề án nghiên cứu "Phát huy vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc" (2008) và chuyên đề do ThS. Nguyễn Văn Pha chủ nhiệm (2009); các hội nghị và diễn đàn của Báo Đại đoàn kết năm 2007 với ý kiến của Nguyễn Khánh, GS. Lưu Văn Đạt, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Đinh Văn Tư; các bài viết của Trần Ngọc Nhẫn (2007, 2011), Đặng Đình Tân (2008), Minh Đức (2008), Nguyễn Thanh Bình (2009), Nguyễn Đăng Dung (2010); đề tài khoa học thành phố Hà Nội do PGS.TS. Phạm Xuân Hằng chủ nhiệm (2009), Quy chế phối hợp phản biện xã hội của Hà Nội (2010) cùng các bài viết của Bùi Xuân Hộ (2009), Hoàng Mai Hương (2009), Lê Hương (2010), Thu Hà.
- Về vị trí, chức năng của Mặt trận: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hiền Oanh (2005) về quyền làm chủ của nhân dân qua Mặt trận; các công trình của TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phương (2005, 2007) và đề tài KX.03 (2009) đề xuất 5 chức năng cơ bản của Mặt trận Tổ quốc giai đoạn 2010 - 2015; tham luận của GS. Tương Lai (2007) về xã hội dân sự và phản biện xã hội.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ nghiên cứu phản biện xã hội nói chung hoặc nghiên cứu kết hợp giữa giám sát với phản biện xã hội (trong đó chủ yếu tập trung vào hoạt động giám sát, còn phần phản biện xã hội được đề cập khiêm tốn, mang tính phục vụ thảo luận chính sách). Chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống và toàn diện về vấn đề "chất lượng phản biện xã hội" của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cũng như chưa xác lập được hệ thống tiêu chí khoa học (đặc biệt là tiêu chí định tính) để đánh giá chất lượng này. Luận án đặt trọng tâm vào việc giải quyết khoảng trống đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, về việc thực thi quyền lực của nhân dân lao động và kiểm soát quyền lực nhà nước; cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị. Khung khái niệm cốt lõi của luận án được xây dựng từ lý thuyết cấu trúc ba bộ phận điều tiết xã hội hiện đại: Nhà nước pháp quyền, thị trường và xã hội dân sự. Trong đó, xã hội dân sự là không gian công dân hành động tập thể để thể hiện lợi ích công và giữ vai trò chế ước quyền lực nhà nước từ bên ngoài.
Về phương pháp tiếp cận thực tế, luận án sử dụng hướng tiếp cận định tính thuần túy trong chuyên ngành Chính trị học, không sử dụng các phương pháp mô hình hóa kinh tế lượng hay thống kê suy diễn:
- Phương pháp luận: Quán triệt và vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu chung: Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, logic kết hợp lịch sử, trừu tượng hóa khoa học; kế thừa chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố.
- Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành: Phối hợp phương pháp phân tích thể chế chính trị, phân tích văn bản pháp luật, phân tích tài liệu xã hội học chính trị.
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: hệ thống Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (trọng tâm là Đại hội VI, IX, X, XI), các nghị quyết, chỉ thị, thông báo kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Hiến pháp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; các đề án nghiên cứu, báo cáo tổng kết thực tiễn, kỷ yếu hội thảo khoa học của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; các bài báo học thuật, ý kiến tham luận của các nhà khoa học, chuyên gia trên các tạp chí chuyên ngành.
Để làm rõ khung lý thuyết phân định các khái niệm trong luận án, bảng so sánh dưới đây tổng hợp các tiêu chí phân biệt giữa phản biện xã hội và các hình thức liên quan theo văn bản:
| Tiêu chí |
Phản biện xã hội (PBXH) |
Phản biện khoa học (PBKH) |
Phản biện pháp lý |
Dư luận xã hội |
Trưng cầu dân ý |
| Mục đích, bản chất |
Chế ước quyền lực nhà nước, thực hành dân chủ, bảo vệ lợi ích chung |
Đánh giá chất lượng công trình nghiên cứu khoa học, đào tạo |
Tranh tụng tại tòa án để xác định vi phạm pháp luật |
Phản ánh tâm trạng, nguyện vọng tự phát của người dân |
Đo lường mức độ đồng thuận của nhân dân đối với câu hỏi cụ thể |
| Chủ thể thực hiện |
Nhân dân, xã hội dân sự, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể |
Nhà khoa học, chuyên gia chuyên môn, hội đồng nghiệm thu |
Bên tố tụng và bên bào chữa (nguyên đơn, bị đơn, luật sư) |
Các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng xã hội |
Toàn thể cử tri, công dân có quyền biểu quyết |
| Phương thức thể hiện |
Lập luận có căn cứ khoa học và thực tiễn, mang tính xây dựng |
Lập luận học thuật chuyên sâu, logic, chặt chẽ, khách quan |
Đưa ra bằng chứng, luận cứ dựa trên chuẩn mực pháp lý |
Tồn tại ở trạng thái tâm lý, truyền khẩu, văn nghệ dân gian |
Trả lời trực tiếp "đồng ý" hoặc "không đồng ý" (phiếu bầu) |
| Mức độ chi phối của lợi ích xã hội |
Chịu sự chi phối trực tiếp của các quan hệ và lợi ích xã hội |
Ít chịu chi phối bởi các quan hệ và lợi ích nhóm xã hội |
Tuân thủ tuyệt đối quy định và thủ tục tố tụng tư pháp |
Phản ánh cảm tính, bức xúc trực tiếp từ đời sống |
Phản ánh lựa chọn đơn giản, không yêu cầu phân tích |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và phân tích bốn nhóm nội dung chính: (1) Nghiên cứu của học giả nước ngoài về phản biện xã hội, xã hội công dân và chính trị nhóm lợi ích; (2) Các công trình trong nước về khái niệm, bản chất của phản biện xã hội; (3) Các nghiên cứu về chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (4) Các nghiên cứu về đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị.
Luận điểm rút ra từ Chương 1 là khoa học trong nước đã khẳng định được vai trò tất yếu của phản biện xã hội đối với việc thực thi quyền lực của nhân dân và xác định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là chủ thể hàng đầu thực hiện chức năng này. Tuy nhiên, các công trình trước đó chủ yếu gắn phản biện xã hội với giám sát xã hội, việc nghiên cứu về phản biện xã hội còn sơ lược, mang tính thảo luận diễn đàn hoặc phục vụ đại hội, tính lý luận chưa cao và hoàn toàn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tiêu chí và giải pháp nâng cao "chất lượng phản biện xã hội" của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Chương 2: Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về phản biện và phản biện xã hội:
- Phân tích ngữ nghĩa: Từ "phản" (xét lại, nghĩ lại, lật lại, trái lại) kết hợp với "biện" (phân tích, tranh luận, giải thích) trong tiếng Hán - Việt tạo nên khái niệm "phản biện" là việc đưa ra các lập luận, luận chứng theo cách tiếp cận khác nhằm xem xét, làm rõ đúng - sai của quan niệm, tri thức có trước. Phản biện mang bản chất nhận thức khoa học (gồm cả cấp độ kinh nghiệm và lý luận), khác biệt căn bản với "phản kháng" (hành động chống đối) và không đồng nhất với "phản bác" (phủ định, bác bỏ).
- Bản chất phản biện xã hội: Là hoạt động phản biện của xã hội dân sự đối với Nhà nước. Nhân dân thực hiện phản biện với hai tư cách: tư cách người chủ sở hữu quyền lực nhà nước ủy quyền cho Nhà nước quản lý, và tư cách đối tượng chịu sự tác động, quản lý trực tiếp của các quyết sách nhà nước nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
- Ba đặc tính cơ bản của phản biện xã hội: Tính xã hội (chủ thể mang tính xã hội, hướng đến mục tiêu công và lợi ích chung); Tính lập luận, có căn cứ (dựa trên luận chứng khoa học và thực tiễn, không dựa vào cảm tính); Tính xây dựng (nhằm giữ thế cân bằng thống nhất giữa các mặt đối lập, hoàn thiện chính sách, không nhằm phủ định chế độ xã hội).
- Phân tích cơ chế phản biện xã hội: Xác định chủ thể thực hiện, chủ thể tiếp nhận, đối tượng, nội dung và phương thức phản biện xã hội.
- Luận giải vị trí, vai trò, đối tượng, phương thức và xác định các tiêu chí định tính đánh giá chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng hoạt động và chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chương 3 khảo cứu toàn diện hoạt động thực tiễn của Mặt trận Tổ quốc qua hai giai đoạn lịch sử:
- Giai đoạn trước Đổi mới (trước năm 1986): Mặt trận chủ yếu làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện các nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc; hoạt động phản biện xã hội chưa xuất hiện với tư cách một chức năng chính trị độc lập mà chỉ tồn tại dưới dạng tham gia góp ý kiến.
- Giai đoạn từ Đại hội VI (1986) đến nay: Hoạt động phản biện xã hội từng bước hình thành và phát triển rõ nét, đặc biệt sau Đại hội X của Đảng (năm 2006). Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tham gia đóng góp ý kiến, phản biện đối với nhiều dự thảo luật, pháp lệnh, các quy hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của quốc gia và địa phương.
Về đánh giá chất lượng và thực trạng:
- Kết quả đạt được: Đã góp phần nâng cao chất lượng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền đối với nhân dân; tạo bước mở rộng môi trường văn hóa tranh luận dân chủ trong xã hội.
- Hạn chế, bất cập: Hoạt động phản biện xã hội còn mang tính hình thức, chiếu lệ; phạm vi phản biện bị giới hạn; chất lượng các ý kiến phản biện chưa cao, chưa đi sâu vào bản chất khoa học của nhiều đề án phức tạp; cơ chế phản hồi, tiếp thu ý kiến phản biện của các cơ quan nhà nước chưa được ràng buộc rõ ràng.
- Nguyên nhân: Thiếu khung khổ thể chế pháp lý bắt buộc; nhận thức của một bộ phận cấp ủy, chính quyền và cán bộ còn e ngại, định kiến; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ Mặt trận còn hạn chế; điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện bảo đảm chưa tương xứng.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chương 4 xác định phương hướng trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải phát huy tối đa quyền làm chủ thực chất của nhân dân, đồng thời đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Nâng cao nhận thức về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tuyên truyền, quán triệt sâu sắc trong toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội về vị trí, tính tất yếu khách quan của phản biện xã hội, xóa bỏ thái độ kỳ thị, e ngại phản biện.
- Thể chế hóa phản biện xã hội thành luật: Khẩn trương xây dựng và ban hành luật hóa chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc; xác lập quy trình, thẩm quyền, thời hạn và trách nhiệm giải trình bắt buộc của các cơ quan soạn thảo, ban hành chính sách khi tiếp nhận văn bản phản biện.
- Củng cố, kiện toàn cơ cấu tổ chức và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động: Khắc phục tình trạng "hành chính hóa", "nhà nước hóa"; phát huy tối đa vai trò của các Hội đồng tư vấn, Ban tư vấn của Mặt trận; tập hợp rộng rãi lực lượng trí thức, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành tham gia phản biện.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách có bản lĩnh chính trị vững vàng, có "tâm" và có "tầm", am hiểu sâu sắc pháp luật, có năng lực tổng hợp, phân tích và phản biện chính sách.
- Đảm bảo các điều kiện vật chất: Bố trí nguồn kinh phí thỏa đáng cho hoạt động phản biện; bảo đảm cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch từ phía các cơ quan nhà nước; trang bị phương tiện làm việc hiện đại đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và tổ chức hội nghị phản biện.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học, luận án tự nêu các đóng góp mới chủ yếu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phản biện xã hội, làm sáng tỏ bản chất của phản biện xã hội là sự chế ước quyền lực nhà nước từ xã hội dân sự trong điều kiện thể chế chính trị một đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam.
- Bước đầu xác định các tiêu chí (trước mắt là các tiêu chí định tính) nhằm đánh giá chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Đánh giá khái quát thực trạng, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và phân tích rõ nguyên nhân của thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
- Đề xuất hệ thống các phương hướng, quan điểm chỉ đạo và 5 nhóm giải pháp cụ thể, đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Về kiến nghị thực tiễn, luận án nhấn mạnh yêu cầu Đảng và Nhà nước cần nhanh chóng luật hóa quy chế phản biện xã hội, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc tiếp thu, phản hồi các kết luận phản biện của Mặt trận; đồng thời đổi mới triệt để mô hình tổ chức của Mặt trận nhằm tránh tình trạng hành chính hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi và nội dung văn bản luận án trình bày, công trình có một số giới hạn nghiên cứu:
- Về phạm vi không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu sâu thực trạng và chất lượng phản biện xã hội ở cấp Trung ương (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam); hoạt động phản biện ở các cấp chính quyền địa phương và cơ sở chỉ được đề cập ở mức độ hạn chế, chưa có điều kiện khảo sát thực tế trên diện rộng toàn quốc.
- Về công cụ đánh giá: Hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận mới dừng lại ở bước đầu xác lập các tiêu chuẩn mang tính "định tính", chưa xây dựng được các chỉ số định lượng hoặc thang đo thực nghiệm để lượng hóa chính xác hiệu quả phản biện.
- Về bối cảnh văn bản: Nghiên cứu được hoàn thành vào năm 2013, tại thời điểm Đề án về quy chế giám sát và phản biện xã hội đang trong quá trình chuẩn bị ban hành, do đó các phân tích gắn liền với thực trạng pháp lý của giai đoạn trước năm 2013.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án gồm: mở rộng nghiên cứu thực nghiệm hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc ở cấp tỉnh, huyện, xã; nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số định lượng đánh giá mức độ hấp thu chính sách từ các khuyến nghị phản biện; và hoàn thiện cơ chế giải trình bắt buộc của các cơ quan hành chính nhà nước.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo rõ ràng trong nghiên cứu và thực tiễn:
- Đối tượng thụ hưởng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Luật học, Xã hội học; cán bộ làm công tác Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội; cán bộ làm công tác tham mưu chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Các phần nội dung đáng tham khảo:
- Chương 1 và Chương 2: Có giá trị tổng hợp tư liệu học thuật rất lớn về các lý thuyết chính trị học phương Tây (lý thuyết xã hội công dân, lý thuyết nhóm lợi ích, dân chủ thỏa vấn) và hệ thống hóa lý luận về bản chất, đặc tính, cơ chế phản biện xã hội trong thể chế chính trị Việt Nam.
- Chương 3: Cung cấp bức tranh lịch sử và thực tiễn về hoạt động của Mặt trận Tổ quốc từ năm 1986 đến 2013.
- Chương 4: Đưa ra khung giải pháp thể chế hóa và đổi mới phương thức hoạt động có thể làm luận cứ trực tiếp cho công tác lập pháp và xây dựng chính sách của Mặt trận.
Câu hỏi thường gặp
1. Bản chất của phản biện xã hội được luận án xác định là gì?
Bản chất của phản biện xã hội là việc thực hành quyền dân chủ của nhân dân, là cách thức thực hiện sự chế ước quyền lực nhà nước từ xã hội (mà thực chất là từ xã hội dân sự) nhằm hiệu chỉnh các chính sách của Nhà nước, làm cho quyền lực nhà nước được vận hành đúng theo ý chí của nhân dân.
2. Nhân dân tham gia phản biện xã hội đối với Nhà nước với những tư cách nào?
Nhân dân thực hiện phản biện xã hội với hai tư cách:
- Tư cách người chủ, chủ thể quyền lực ủy quyền cho Nhà nước, có quyền nói lên tiếng nói của mình để hoạt động của Nhà nước đáp ứng đúng nguyện vọng của nhân dân.
- Tư cách đối tượng chịu sự quản lý trực tiếp của Nhà nước, có quyền bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng trước những chính sách chưa phù hợp hoặc xâm phạm đến lợi ích đó.
3. Phản biện xã hội có những đặc tính cơ bản nào?
Luận án xác định phản biện xã hội có ba đặc tính cơ bản:
- Tính xã hội: Xuất phát từ chủ thể trong xã hội dân sự, đại diện cho tiếng nói của số đông và hướng tới mục tiêu công, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội.
- Tính lập luận, có căn cứ: Phải dựa trên luận chứng, căn cứ khoa học và thực tiễn khách quan, không dựa trên suy diễn cảm tính.
- Tính xây dựng: Hướng tới sự cân bằng và hoàn thiện chính sách trong khuôn khổ thể chế, không đồng nhất với phản kháng chống đối hay phủ định chế độ xã hội.
4. Vì sao các học giả nước ngoài ít có công trình nghiên cứu riêng biệt về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc?
Bởi vì trong các nền chính trị phương Tây, phản biện xã hội không đứng tách riêng mà được lồng ghép như một nhiệm vụ trong chuỗi hoạt động của các nhóm lợi ích, các phong trào xã hội, các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc các đảng phái chính trị nhằm tác động vào quá trình hoạch định chính sách công trong nền dân chủ đa nguyên.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nào nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Nâng cao nhận thức của toàn hệ thống chính trị về phản biện xã hội; (2) Thể chế hóa phản biện xã hội thành luật; (3) Củng cố cơ cấu tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận; (4) Nâng cao chất lượng, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ Mặt trận; (5) Đảm bảo các điều kiện vật chất, tài chính và cung cấp thông tin minh bạch.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở nước ta hiện nay" của tác giả Vũ Thị Như Hoa là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên biệt trong chuyên ngành Chính trị học về vấn đề nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phản biện xã hội, mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội dân sự trong việc kiểm soát quyền lực, đồng thời bước đầu đề xuất các tiêu chí định tính đánh giá chất lượng phản biện. Qua việc khảo cứu thực trạng giai đoạn 1986 - 2013, luận án chỉ rõ những kết quả, bất cập và xác lập 5 nhóm giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm thúc đẩy thể chế hóa và nâng cao năng lực phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Luận án là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho công tác nghiên cứu, đào tạo lý luận chính trị và hoạch định chính sách dân chủ ở Việt Nam.