Chương 1. Một số vấn đề lý luận về chất lượng nhân lực và kinh nghiệm nâng cao chất lượng nhân lực của ngân hàng thương mại. Thực trạng chất lượng nhân lực của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Thăng Long. Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn Thương Tín - Chi nhánh Thăng Long 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Một số vấn đề vềngân hàng thƣơng mại và nhân lực của ngân hàng thƣơng mại 1. Ngân hàng thương mại : Quan niệm, phân loại và vai trò 1. Quan niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp các dịch vụ tài chính. Đây là thuật ngữ cũng được sử dụng rộng rãi và cũng có nhiều quan điểm khác nhau.
Tuy nhiên, sự khác nhau của các quan điểm là không đáng kể. Ở Mỹ, ngân hàng thương mại được hiểu là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Việt Nam, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo luật Ngân hàng nhà nước, hoạt động ngân hàng được hiểu là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
Có thể hiểu, ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chính là kinh doanh tiền tệ. Nó được xem là một tổ chức kinh tế đặc biệt với mức độ rủi ro cao, cùng sức ảnh hưởng dây chuyền tới sức khỏe nhiều doanh nghiệp khác cũng như tới sức khỏe nền kinh tế. Do đó, hoạt động ngân hàng thương mại luôn chịu sự giám sát chặt chẽ nhất từ các thiết chế quản lý. Đồng thời, tự bản thân nó cũng đòi hỏi những bộ máy tổ chức quản lý vận hành hiệu quả nhất và liên tục được hoàn thiện.
Nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại, vì vậy, rất cần đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định. 6 Như vậy, về bản chất, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Trong luận văn này, tác giả lựa chọn cách hiểu ngân hàng thương mại theo quan điểm của Việt Nam. Phân loại ngân hàng thương mại Thứ nhất, dựa vào hình thức sở hữu : Một là, ngân hàng thương mại quốc doanh (State owned Commercial bank): Là ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước.
Trong tình hình hiện nay để tăng nguồn vốn và phù hợp với xu thế hội nhập tài chính với thế giới các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam đang phát hành trái phiếu để huy động vốn; đã và đang cổ phần hóa để tăng sức cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng cổ phần hiện nay. Hai là, ngân hàng thương mại cổ phần (Joint Stock Commercial bank): Là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Trong đó một cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo qui định Ba là, ngân hàng liên doanh (thuộc loại hình tổ chức tín dụng liên doanh): Là Ngân hàng được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là ngân hàng thương mại Việt nam và bên khác là ngân hàng thương mại nước ngoài có trụ sở đặt tại nước sở tại, hoạt động theo pháp luật của nước sở tại. Bốn là, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại nước sở tại, hoạt động theo pháp luật của nước sở tại Năm là, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài: Là Ngân hàng thương mại được thành lập tại nước sở tại với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Ngân hàng mẹ).
Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân, có trụ sở chính tại nước sở tại. Thứ hai, dựa vào chiến lược kinh doanh: Một là, ngân hàng bán buôn: Là loại NH chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. 7 Hai là, ngân hàng bán lẻ: Là loại NH giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân. Ba là, ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: Là loại NH giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng cá nhân.
Thứ ba, dựa vào tính chất hoạt động: Một là, ngân hàng chuyên doanh:Là loại NH chỉ hoạt động chuyên môn trong một lĩnh vực như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư… Hai là, ngân hàng kinh doanh tổng hợp: Là loại NH hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế và thực hiện hầu như tất cả các nghiệp vụ mà một NH có thể được phép thực hiện. Vai trò của ngân hàng thương mại Thứ nhất, khuyến khích tiết kiệm, góp phần hình thành và hỗ trợ các dòng vốn luân chuyển. Trong nền kinh tế luôn xuất hiện những chủ thể ở tình trạng thặng dư tạm thời. Họ có nhu cầu đầu tư để bảo toàn vốn và sinh lời.
Tuy vậy, không phải ai cũng có cơ hội thực hiện điều đó. Các ngân hàng thương mại huy động những khoản vốn này dưới nhiều hình thức: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, tích tụ chúng và cho vay lại nền kinh tế. Như vậy, thay vì bị rút khỏi lưu thông, tồn tại dưới dạng cất trữ, tiền được chuyển thành vốn đầu tư, sinh lời. Thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, các dòng vốn được hình thành và luân chuyển một cách dễ dàng, thông suốt hơn trong nền kinh tế.
Một số bộ phận của các dòng vốn này có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, như các khoản đầu tư vào sự phát triển cơ sở hạ tầng, nhưng hầu hết các bộ phận khác chỉ đơn thuần làm tăng nguồn lực vốn trong quan hệ với lợi tức tài chính của các khoản đầu tư, cả trong các khoản đầu tư nợ lẫn đầu tư vốn chủ sở hữu. Thứ hai, phân bổ vốn hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực Ngân hàng thương mại về bản chất là các doanh nghiệp, kinh doanh vì mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Họ phải lựa chọn những doanh nghiệp hay dự án có khả năng thu hồi nợ, có hiệu quả để cho vay. Nhờ quá trình sàng lọc 8 tín dụng, vốn trong nền kinh tế được tập trung vào những khu vực có khả năng sinh lời cao, mang lại nhiều lợi ích.
Những lĩnh vực hay ngành nghề kém hiệu quả sẽ không nhận được vốn. Nhờ các trung gian tài chính này, vốn được phân bổ hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực. Thứ ba, giảm chi phí, tối thiểu hóa rủi ro Việc chuyển dịch vốn diễn ra trực tiếp giữa các chủ thể thặng dư và thiếu hụt vốn đòi hỏi phải tiêu tốn rất nhiều chi phí của cả hai bên: thu thập và xử lý thông tin, chi phí về thời gian, trong nhiều trường hợp, các nhu cầu này không thể tương thích và giao dịch không thể diễn ra. Xét đến cùng, những chi phí phát sinh như vậy gây thiệt hại cho toàn bộ nền kinh tế vì làm lãng phí, tổn thất nguồn lực.
Các ngân hàng thương mại với tư cách là những tổ chức trung gian tài chính, có thể giảm thiểu tới mức thấp nhất những chi phí này. Ngân hàng thương mại thu thập và nắm giữ thông tin về một lượng lớn người có nhu cầu về vốn cũng như những người khác sẵn sàng cung ứng vốn. Cũng do được chuyên môn hóa, ngân hàng thương mại có các nghiệp vụ kỹ thuật để san sẻ và phân tán rủi ro. Họ có khả năng thu thập được lượng lớn thông tin liên quan đến số lượng đông đảo các đối tượng khác nhau, có thể giảm sát các khoản tín dụng, giảm các nguy cơ về rủi ro đạo đức cũng như thông tin không cân xứng.
Thứ tư, hỗ trợ đổi mới công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất Ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến tăng trưởng bằng cách làm thay đổi tỷ lệ tiết kiệm và thông qua sự tài trợ vốn cho các doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu, mà chủ yếu là đầu tư vào công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Sự biến đổi công nghệ vì vậy chịu sự tác động từ vai trò của các hệ thống tài chính. Thứ năm, hoạt động của ngân hàng thương mại góp phần nâng cao môi trường kinh doanh, xây dựng văn hóa kinh doanh đối với các doanh nghiệp Việc ngân hàng thương mại tham gia sâu vào các hoạt động của nền kinh tế như hoạt động góp vốn, tư vấn… cũng tạo ra những hiệu ứng tích cực cho sự đổi mới phong cách làm việc của những chủ thể này. Bản thân ngân hàng thương mại là 9 những tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, với hệ thống công nghệ hiện đại, mạng lưới thông tin rộng khắp.
Sự năng động và phong cách chuyên nghiệp, minh bạch của ngành Ngân hàng giúp các tổ chức, cá nhân khác trong nền kinh tế hình thành tác phong công nghiệp chuyên nghiệp và văn hóa kinh doanh.2 Nhân lực của ngân hàng thương mại : Quan niệm, đặc điểm và vai trò 1. Quan niệm về nhân lực của ngân hàng thương mại Nhân lực được hiểu đơn giản là lực lượng con người hay nguồn lực con người. Nó có vai trò quan trọng cho sự phát triển và là nhân tố quyết định hiệu quả khai thác, sử dụng của các nguồn lực khác. Khi đề cập tới nguồn lực con người, người ta thường đề cập tới hai mặt: số lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn lực con người chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển. Nhưng, yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người không phải là số lượng, mà là chất lượng.