Phần Mở đầu Chƣơng I: Cơ sở lý luận về quản lý và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Chƣơng II: Thực trạng công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ KH&CN tại ĐHQGHN. Chƣơng III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN ở ĐHQGHN thông qua đổi mới cơ chế, chính sách tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ. Phần Kết luận 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Một số khái niệm công cụ 1.1 Nhân lực và quản lý nguồn nhân lực 1.1 Nhân lực, nguồn nhân lực Theo cách hiểu chung nhất: Nhân lực là sức người, về mặt dùng trong lao động, sản xuất (Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, 1997).
Và theo lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực (tài nguyên nhân lực) - theo nghĩa rộng - được hiểu như nguồn lực con người của một Quốc gia, một vùng lãnh thổ, ngành và là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động để tham gia vào quá trình kinh tế - xã hội, như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Theo đó, nguồn nhân lực bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt động nào của một tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Cơ quan tổ chức có thể là một hãng sản xuất, một công ty bảo hiểm, một cơ quan của nhà nước, một bệnh viện, một viện đại học, liên đoàn lao động, nhà thờ, hãng hàng không hay quân đội. Tổ chức đó có thể lớn hay nhỏ, đơn giản hay phức tạp.
Ngày nay tổ chức có thể là một tổ chức chính trị hay một tổ chức vận động tranh cử.Chất lượng nguồn nhân lực Trong quản lý và trong chính sách quản lý nhân lực nói chung (và nhân lực KH&CN nói riêng), người ta không chỉ đơn thuần quan tâm tới số lượng lao động sẵn có, mà cần thiết phải quan tâm tới chất lượng của nguồn lao động đó – chất lượng nguồn nhân lực. Ở đây, chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là một tập hợp bao gồm nhiều yếu tố (trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc, thức độ và phong cách lao động .) tác động lẫn nhau theo một cơ cấu hợp lý về lao động - Điều này cũng phù hợp với những đức tính trong định hướng phát triển con người Việt 6 z Nam trong giai đoạn cách mạng mới là xây dựng con người Việt Nam đó được Đảng ta khẳng định. Theo đó, chất lượng của nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng và được quy định bởi các yếu tố nói trên. Trong đó: - Giá trị lớn nhất của con người là trí tuệ – khả năng nhận biết thực tại khách quan, chinh phục thế giới và phục vụ nhu cầu cuộc sống – không phải là cái tự có, mà chỉ đạt được thông qua quá trình lao động, học tập và hoạt động thực tiễn của con người; và, - Một số kỹ năng của con người, phù hợp và cần thiết với từng quá trình lao động vụ thể, cũng chỉ được rèn luyện thông qua giáo dục và đào tạo.3 Quản lý nguồn nhân lực Theo cách hiểu chung nhất, quản lý nhân lực là quá trình làm việc với con người, thông qua con người để đạt mục tiêu của tổ chức.
Hay nói theo cách khác, Quản lý nhân lực KH&CN bao gồm tập hợp các hành vi quản lý nhằm định hướng chiến lược và quy hoạch phát triển đội ngũ KH&CN xây dựng các chính sách đào tạo sử dụng, khuyến khích, tổ chức triển khai đội ngũ phục vụ cho các mục tiêu phát triển KH&CN nói riêng và kinh tế xã hội nói chung. Và nói một cách cụ thể hơn, Quản lý nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nguồn nhân lực thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức.(33) Như vậy, quản lý nguồn nhân lực gắn liền với mọi tổ chức, bất kể cơ quan tổ chức đó có phòng hay bộ phận quản trị nhân sự hay không. Hay nói cách khác, quản lý nguồn nhân lực là một thành tố quan trọng của chức năng quản lý, và nó có gốc rễ và các nhánh trãi rộng khắp nơi trong một tổ chức: quản lý nguồn nhân lực hiện diện khắp mọi phòng ban, bất cứ cấp quản lý nào cũng có nhân viên dưới quyền và vì thế đều phải quản lý nguồn nhân lực - nghĩa là phải hoạch định (planning), tổ chức (organizing), lãnh đạo (leading) 7 z và kiểm tra (controlling) lực lượng nhân sự của mình. Do đó, bất cứ cấp quản lý nào - cũng phải quan tâm và thực hiện việc quản lý nguồn nhân lực.
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, quản lý nhân lực được thực hiện chủ yếu thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước, các chính sách đào tạo, bố trí, sử dụng, khen thưởng v. các công cụ tài chính để chế tài và định hướng phát triển. Từ các khái niệm quản lý nguồn nhân lực có thể suy ra rằng quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, tổ chức chủ yếu tập trung vào 04 nội dung cơ bản, đó là: (i) Tuyển dụng nhân sự; (ii) Bố trí, sử dụng nhân sự; (iii) Đào tạo, phát triển nhân sự; (iv) Đãi ngộ nhân sự. Bốn nội dung này có mối liên quan chặt chẽ, bổ sung và quy định lẫn nhau.
Tuyển dụng Bố trí và sử dụng nhân sự nhân sự Mục tiêu của Doanh nghiệp, tổ chức Đãi ngộ Đào tạo, phát nhân sự triển nhân sự Sơ đồ Quản lý nguồn nhân lực; Nguồn: Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực (Nhà xuất Bản thống kê năm 2008)(35) Tuyển dụng nhân sự Chất lượng của đội ngũ lao động sẽ quyết định năng lực cạnh tranh bền vững của mọi doanh nghiệp. Vì vậy, để có được đội ngũ lao động có chất lượng đáp ứng những yêu cầu của các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp cần phải làm tốt công tác tuyển dụng. Tuyển dụng nhân sự là hoạt động liên quan đến quá trình cung ứng nhân lực cho doanh nghiệp. Nói cách khác, tuyển dụng chính là quá trình cung cấp một yếu tố đầu vào đặc biệt cho doanh nghiệp - yếu tố con người.
Quá trình này bao gồm hai khâu cơ bản là thu hút, tìm kiếm và tuyển chọn 8 z nhân sự. Hai khâu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: nếu thu hút, tìm kiếm tốt mới có điều kiện tuyển chọn nhân sự có chất lượng, ngược lại, tuyển chọn tốt cũng làm tăng thêm uy tín của quá trình tuyển dụng của doanh nghiệp và qua đó giúp cho việc thu hút, tìm kiếm thuận lợi hơn. Để thực hiện tốt công tác tuyển dụng, các nhà quản trị cần chú ý hai điểm, đó là: (i) xác định nguồn cung ứng nhân lực đúng; (ii) sử dụng quy trình tuyển dụng khoa học. Nếu xác định nguồn cung ứng không đúng sẽ rất khó khăn cho việc thu hút, tìm kiếm ứng viên và từ đó hạn chế kết quả tuyển chọn nhân sự.
Đồng thời, nếu quy trình tuyển chọn nhân sự không khoa học thì dù đã nỗ lực thu hút, tìm kiếm nhưng ứng viên được chọn chưa hẳn là ứng viên cần thiết cho nhu cầu tuyển dụng, hay nói cách khác kết quả tuyển chọn khó đạt được kết quả mong đợi. Bố trí, sử dụng nhân sự Tiếp theo công việc tuyển dụng nhân sự, cần tiến hành bố trí nhân sự được tuyển dụng vào vị trí thích hợp. Tuy nhiên, quá trình bố trí nhân sự trong doanh nghiệp không chỉ dừng ở đối tượng là nhân sự mới tuyển dụng mà còn liên quan đến cả nhân sự đang đảm nhận công việc nào đó nhưng cần phải thuyên chuyển hoặc đề bạt đến vị trí phù hợp hơn. Điều này xuất phát từ yêu cầu “đúng người, đúng việc” hay nói cách khác là “làm đúng việc trước khi làm việc đúng”.
Những nhân viên đã làm việc một thời gian có thể bộc lộ các năng lực sở trường khác tốt hơn so với năng lực sở trường ban đầu, vì vậy cần thuyên chuyển đến chỗ làm việc mà ở đó họ phát huy tốt hơn và ngược lại, do tính chất phức tạp của công việc mà họ đảm nhiệm ngày càng tăng trong khi năng lực của họ khó có thể theo kịp cũng cần bố trí họ sang công việc khác phù hợp hơn, hoặc do quá trình tái cơ cấu của doanh nghiệp cần phải có sự thay đổi vị trí công việc… Bên cạnh bố trí nhân sự hợp lý, để nhân viên phát huy năng lực làm việc một cách tích cực cần có cách thức sử dụng nhân sự khoa học. Đó chính là quá trình sử dụng nhân sự, nó liên quan đến việc đánh giá năng lực làm 9 z việc và tạo điều kiện để phát huy tối đa khả năng làm việc của người lao động. Giữa bố trí và sử dụng nhân sự có mối quan hệ chặt chẽ, quy định và bổ sung lẫn nhau. Bố trí nhân sự đúng chính là tạo điều kiện để phát huy tốt năng lực làm việc của nhân sự và cũng thể hiện khả năng sử dụng nhân sự của nhà quản trị.
Sử dụng tích cực năng lực làm việc của nhân sự cũng giúp cho công tác bố trí nhân sự được tiến hành một cách hợp lý, tránh tình trạng dư thừa nhân lực. Đào tạo, phát triển nhân sự Đào tạo nhân sự là những hoạt động cung cấp các kiến thức, kỹ năng cho người lao động nhằm hoàn thành tốt công việc được giao. Công tác đào tạo nhân sự liên quan đến đối tượng mới được tuyển dụng cũng như đối tượng được bố trí vào vị trí công tác mới. Nội dung của đào tạo liên quan đến bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng để đảm nhiệm tốt công việc hiện tại, và do vậy, bao gồm đào tạo chuyên môn nghề nghiệp, đào tạo chính trị, đào tạo lý luận, đào tạo phương pháp công tác.
Hình thức đào tạo cũng cần đa dạng để phù hợp với các đối tượng và các nội dung khác nhau, đồng thời không làm gián đoạn hoạt động của doanh nghiệp. Nhà quản trị phải là người tổ chức và tham gia trực tiếp đào tạo nhân viên của mình, ngoài ra còn phải là một tấm gương về tinh thần học tập để biến quá trình đào tạo từ chỗ được đào tạo sang tự đào tạo. Phát triển nhân sự là những hoạt động tạo điều kiện cho người lao động trong việc hoàn thiện các kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp để thành đạt và vươn lên các đỉnh cao trong sự nghiệp.