Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” [4, tr.
Theo Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân thì “Nhân lực chính là tổng thể những tiềm năng của con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm…) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển” [17, tr24]. Theo tác giả Lê Xuân Sinh: “Nhân lực là nguồn lực, sức mạnh của mỗi cá thể con người nó bao gồm thể lực, trí lực, các khả năng của các giác quan, xúc cảm tâm lý, bao gồm tư tưởng, ý chí, sự đam mê, niềm tin, lý tưởng, khát vọng vươn lên… của con người, tạo thành sức mạnh giúp con người hoạt động, tham gia vào các hoạt động lao động xã hội” [21, tr.12] Từ các định nghĩa trên, tác giả luận văn cho rằng: “Nhân lực là nguồn lực, là sức mạnh của con người được sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm tất cả khả năng của một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hoặc xã hội”. “Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Nó thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc, nó bao gồm sức khỏe, trình độ chuyên, tâm lý, ý thức, tinh thần trách nhiệm, mức độ cố gắng, khả năng linh hoạt sáng tạo, lòng say mê…” [26, tr.
Nhân lực là một trong các yếu tố quan trọng của một quá trình lao động, đây là nguồn lực khởi động cho các nguồn lực khác như tài lực, vật lực. Mọi thứ sẽ không còn ý nghĩa nếu như thiếu nó. Sức lực con người là vô tận, khác với các nguồn lực khác là nó không bị cạn kiệt khi đưa vào sử dụng. Ngoài những năng lực hiện hữu, nó còn ẩn chứa ở dạng tiềm năng, mà chính con người cũng còn chưa hiểu hết được.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo World Bank (2000):“Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát của mỗi cá nhân và của đất nước” [39, tr. Tác giả Bùi Văn Nhơn (2006) cho rằng: “NNL DN là lực lượng lao động của từng DN, là số người có trong danh sách của DN, do DN trả lương” [18, tr. Đồng quan điểm trên, tác giả Lê Thanh Hà (2009), cho rằng: “NNL của tổ chức là nguồn lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên (CBCNV) lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên” [8].
Từ những khái niệm trên, theo tác giả luận văn: “NNL trong DN được hiểu là tất cả NLĐ làm việc trong DN, được trả công hay không được trả công, trực tiếp tham gia vào các hoạt động hay giải quyết các vấn đề của DN”. Như vậy, NNL trong DN được thể hiện ở các khía cạnh số lượng, chất lượng và cơ cấu. Về số lượng: NNL trong DN được thể hiện ở quy mô hay số người ở bất cứ vị trí nào mang tính ổn định và lâu dài, bao gồm những người trong biên chế hay người làm việc theo hợp đồng ngắn hạn, dài hạn, kể cả các cộng tác viên, những người mà DN có thể huy động mang tính ổn định. Thực tế cho thấy, các DN có thể hợp đồng với các cộng tác viên để giải quyết một công việc nào đó theo mùa vụ, sự vụ ngắn hạn hay dài hạn tùy theo tính chất, yêu cầu của công việc.
Về chất lượng: NNL trong DN được biểu hiện ở khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mà DN phân công, bao gồm khả năng về thể lực, trí lực, tâm lực, kỹ năng nghề nghiệp, tinh thần, khả năng sáng tạo, mức độ linh hoạt, thái độ, ý thức lao động và phong cách, tác phong làm việc. Về cơ cấu NNL: NNL trong DN biểu hiện tỷ trọng NNL thành phần được phân theo các tiêu chí. Chẳng hạn: Giỏi tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, lao động trực tiếp, lao động gián tiếp. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chất lượng nói chung được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
Chất lượng NNL là khả năng đáp ứng yêu cầu, sự kỳ vọng của người sử dụng lao động (NSDLĐ) về một hoặc nhiều thuộc tính cấu thành NNL. Theo tác giả Vũ Thị Ngọc Phùng (2006), “Chất lượng NNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của NLĐ cũng như sức khỏe của họ” [19, tr. Với quan điểm này thì chất lượng của NNL được đánh giá thông qua: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kĩ năng (trí lực) và sức khỏe (thể lực), các tiêu chí này có thể đo lượng khá dễ dàng vì được định lượng bằng các cấp bậc đào tạo chuyên môn. Theo tác giả Nguyễn Tiệp (2011), thì “Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của NLĐ, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,.), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của NNL” [24, tr.
Theo tác giả Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu (2012) thì “Chất lượng NNL được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất” [4, tr. Đồng quan điểm này, tác giả Tạ Ngọc Hải (2013) cũng cho rằng: “Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ. Từ những khái niệm trên, tác giả luận văn cho rằng: “Chất lượng NNL là khả năng đáp ứng yêu cầu của NSDLĐ, bảo đảm NNL hoàn thành mục tiêu theo sự kỳ vọng của DN”. Nó được hiểu là toàn bộ năng lực cấu thành của NNL như: Thể lực, trí lực, tâm lực và cơ cấu.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nâng cao chất lượng nghĩa là làm thay đổi trạng thái, khả năng đáp ứng yêu cầu theo hướng tích cực của người sử dụng nó. Theo đó, nâng cao chất lượng NNL trong DN là tất cả các phương pháp, biện pháp, hoạt động của DN tác động lên 10 NNL làm thay đổi chất lượng và tăng khả năng đáp ứng, thỏa mãn yêu cầu, mong muốn của NSDLĐ hay DN sử dụng nó. Các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đánh giá chất lượng NNL là công việc thường xuyên ở các tổ chức, DN thông qua việc so sánh, phân tích mức độ đạt được của quá trình phấn đấu, rèn luyện và thực hiện công việc của NLĐ theo tiêu chuẩn, yêu cầu đề ra. Mục đích của việc đánh giá là để xem xét kỹ năng chuyên môn, trình độ, kết quả thực hiện công việc; làm căn cứ để cân nhắc, đề bạt, kỷ luật, khen thưởng, thuyên chuyển; đồng thời thấy được các vấn đề bất cập về quản lý chất lượng công việc của NLĐ trong quá trình lao động.
Do đó, công tác đánh giá hết sức quan trọng vì những mục đích cũng như ảnh hưởng của nó đến chất lượng của NLĐ và DN. Theo khái niệm về chất lượng NNL, có thể thấy chất lượng NNL bao gồm 4 yếu tố cấu thành là Thể lực, trí lực, tâm lực và cơ cấu NNL, cụ thể như sau: 1. Thể lực Thể lực là một thành tố quan trọng cấu thành nhân lực hay sức mạnh cá thể con người, nó bao gồm sức khỏe về mặt thể chất và tinh thần, là trạng thái mà con người cảm thấy thoải mái về mặt tâm sinh lý. Theo đó, người có thể lực là người có thể chất tốt, có thể làm việc một cách dẻo dai, chịu đựng được các áp lực trong công việc, duy trì được cường độ lao động, có khả năng đem lại năng suất và hiệu quả lao động cao; ít mệt mỏi, căng thẳng, có trạng thái tâm sinh lý ổn định.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), “sức khoẻ là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật”. Người không có sức khỏe/thể lực thì “làm việc gì cũng khó”, trong nhiều công việc sẽ không thể hoàn thành được. Bởi vậy trong bất cứ công việc nào, khi tuyển dụng, phân công bố trí công việc, các DN đều yêu cầu NLĐ phải có đủ sức khỏe để làm việc. Tất nhiên, công việc, tính chất công việc khác nhau sẽ đòi hỏi mức độ thể lực khác nhau.
Ở Việt Nam, theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại Quyết định số 1613/BYT-QĐ ngày 15/8/1997, sức khỏe được chia thành 05 (năm) loại căn cứ vào 13 (mười ba) 11 chỉ số sức khỏe, bao gồm: Thể lực chung, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, tâm thần – thần kinh, tuần hoàn, tiết niệu – sinh dục, hô hấp, tiêu hóa, hệ vận động, nội tiết – chuyển hóa, da liễu, u các loại. Dựa vào các chỉ số trên, phân loại sức khỏe như sau: - Lọai I: Cả 13 chỉ số đều đạt loại I. - Lọai II: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại II, xếp loại II. - Lọai III: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại III, xếp loại III.
- Lọai IV: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại IV, xếp loại IV - Lọai V: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại V, xếp loại V [2]. Tương ứng với cách phân loại trên, thể lực còn có thể đánh giá và phân thành các loại A, B, C, D.