CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực tồn tại trong mỗi con người, nó bao gồm cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Nguồn lực của mỗi người được thể hiện và bộc lộ ra ngoài bởi khả năng lao động, thực hiện công việc.
Kết quả lao động dựa trên trình độ, sức khỏe, tâm lý, ý thức, sự cố gắng, khả năng sáng tạo, lòng say mê,. Chính vì vậy, nhân lực, con người là yếu tố quan trọng nhất, khi không có con người thì mọi yếu tố khác sẽ không được vận hành, sẽ không có sự đổi mới, phát triển. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.”[8, tr 5] Theo Phạm Minh Hạc (2001), “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”.[6, tr 269] Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. [1, tr 9] Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng: - Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược 9 lại. Tuy nhiên có mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định. - Về chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt như: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất.
Nguồn nhân lực trong tổ chức: Nguồn nhân lực trong tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối hợp kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên. Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả tiếp cận và khái quát khái niệm nguồn nhân lực như sau: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực. Nguồn nhân lực trong tổ chức bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức.
Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là một sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều yếu tố và giá trị cùng tham gia tạo nên. Bao gồm các yếu tố cơ bản: sức khỏe (thể lực), trình độ học vấn, đạo đức nghề nghiệp và cơ cấu lao động. Về chất lượng nguồn nhân lực, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về chất lượng nguồn nhân lực. Có quan điểm cho rằng, chất lượng nguồn nhân lực là giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành NLĐ có những năng lực và phẩm chất đạo đức, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, chất lượng là thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nhân lực. 10 Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Chất lượng nguồn nhân lực là sự lành nghề của lao động nhằm hướng tới có việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân người lao động”.[8, tr 13] Theo Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2008), chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu như sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [1, tr 27] Theo quan điểm của Phan Thanh Tâm thì chất lượng nguồn nhân lực được định nghĩa: “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hòa 3 yếu tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất của người lao động”. [11, tr 37] Xét về phía DN: Chất lượng nguồn nhân lực trong DN là toàn bộ năng lực, thể lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực, có ảnh hưởng quyết định đến việc hoàn thành những mục tiêu hiện tại và tương lai của mỗi DN. Theo hướng tiếp cận của luận văn tác giả có quan điểm về chất lượng nguồn nhân lực như sau: là trình độ khả năng của năng lực thể chất và năng lực tinh thần cấu thành nên lực lượng lao động của xã hội, được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc.
Nói một cách khác, tất cả các yếu tố này cấu thành nên chất lượng nguồn nhân lực. Khi nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ, bao gồm trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức và tinh thần; ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn; ý thức, tinh thần và tác phong làm việc là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn; trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nhân lực trong DN Nâng cao chất lượng nhân lực là tăng cường sức mạnh về chất lượng về 11 mọi mặt của NLĐ nhằm hướng đến mục tiêu ngày càng phát triển của xã hội.
Chất lượng nhân lực của một quốc gia được quyết định bởi chất lượng nhân lực của từng DN, từng cá nhân trong xã hội. Thông qua chất lượng nhân lực sẽ thấy được quốc gia phát triển đến đâu, hay mức độ văn minh của xã hội. Để nâng cao chất lượng nhân lực của quốc gia, thì cần nâng cao chất lượng của tổ chức, DN. Để nâng cao chất lượng của DN, cần có những biện pháp tăng cường về thể lực, tâm lực và trí lực cho NLĐ các biện pháp đó bao gồm:tuyển dụng, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ nhân lực… Như vậy, ta có thể khẳng định rằng: “Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp là việc sử dụng các biện pháp nhằm tăng cường: thể lực, tâm lực và trí lực nhằm góp phần thực hiện hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp”.
Các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong DN 1. Trí lực Trí lực có thể hiểu rằng đó là sự phối hợp nhuần nhuyễn của sự quan sát, trí nhớ, suy nghĩ, sức tưởng tượng, thực hành và sáng tạo để tạo nên giá trị công việc. Như vậy, để nâng cao chất lượng nhân lực thì nâng cao trí lực cho NLĐ là điều quan trọng. Trí lực mạnh, có nghĩa là sự vận dụng tri thức để thực hiện công việc tốt.
Trí lực được đánh giá dựa trên các tiêu chí chủ yếu sau: (i) Trình độ phổ thông Trình độ văn hóa là những kiến thức cơ bản, là nền tảng để có thể thực hiện được những việc đơn giản duy trì sự sống. Trình độ văn hóa được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình tự học tập suốt đời của mỗi cá nhân. Thang đo trình độ văn hóa, được thể hiện qua các cấp học của hệ phổ thông. Có các cấp đó là: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Hoàn thành được các cấp này, cá nhân NLĐ đã hoàn thành hệ phổ thông các cấp, được trang bị những kiến thức cơ bản và đơn giản nhất. Là nền tảng để NLĐ tiếp tục tiếp thu các kiến thức chuyên môn kỹ thuật. 12 (ii) Trình độ chuyên môn kỹ thuật Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện yêu cầu công việc của vị trí đang đảm nhận. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng nhân lực về mặt trí lực.
Vì trình độ chuyên môn kỹ thuật tạo ra điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng khoa học kỹ thuật và SXKD, sáng tạo ra những giá trị thúc đẩy sự phát triển của DN và xã hội. Để đánh giá tiêu chí về trình độ chuyên môn kỹ thuật, có thể đánh giá qua các trình độ như sau: trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học. Trình độ chuyên môn kỹ thuật từ thấp đến cao, phản ánh được trí lực của NLĐ. Chất lượng nhân lực, ngoài tâm lực và trí lực, cũng cần nói tới kỹ năng, kinh nghiệm.
Kinh nghiệm được tích lũy dựa vào quá trình làm việc của mỗi cá nhân, được đúc kết dựa trên sự tổng hợp kiến thức và kỹ năng để tìm tòi, đổi mới cách hoạt động, giải pháp trong công việc. (iii) Kỹ năng, kinh nghiệm Kỹ năng của NLĐ không chỉ dừng lại ở kỹ năng về mặt chuyên môn kỹ thuật mà còn là kỹ năng lãnh đạo, lập kế hoạch đối với các nhà quản trị… Có thể hiểu kinh nghiệm là cách xử lý tình huống, đưa ra các giải pháp trên cơ sở học hỏi, dựa trên kinh nghiệm sống của cá nhân. Giúp bổ trợ cho công việc chuyên môn kỹ thuật mà NLĐ đang đảm nhận tại vị trí công việc. Thang đo để biết được NLĐ có kỹ năng, kinh nghiệm.
Đó là, dựa trên cách xử lý các tình huống, thời gian xử lý nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả. Những kỹ năng kinh nghiệm này thường không được đào tạo trong nhà trường, nhưng nó lại giúp NLĐ nâng cao năng lực bản thân, cũng là yếu tố quan trọng quyết định thương hiệu cá nhân của NLĐ trong tổ chức. Tâm lực Chất lượng nhân lực được phản ánh qua nhiều khía cạnh khác nhau.