Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY SẢN XUẤT LINH KIỆN ĐIỆN TỬ 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty 1. Các khái niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty 1. Khái niệm chất lượng Chất lượng là một trong những khái niệm mang tính chất trừu tượng có rất nhiều các quan điểm khác nhau về chất lượng.
Với mỗi khía cạnh khác nhau thì khái niệm chất lượng lại được hiểu theo các nghĩa khác nhau Theo từ điển tiếng Việt phổ thông “chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Viện ngôn ngữ học, 2011). Theo khái niệm này cho thấy chất lượng được thể hiện bằng sự khác biệt của sự vật (sự việc) điều đó đồng nghĩa với việc sự vật (sự việc) được đặc trưng bởi đặc tính khác biệt hoàn toàn với sự vật (sự việc) khác mà những cái khác không có được. Theo quan niệm chất lượng của ISO “chất lượng là tổng hợp các đặc điểm của sản phẩm hoặc dịch vụ để đáp ứng các nhu cầu đã được nêu ra hoặc hàm ý” hay một cách cụ thể hơn định nghĩa này được hiểu chất lượng là một trạng thái động liên quan đến sản phẩm, dịch vụ, con người trong quá trình và môi trường đáp ứng hoặc vượt quá kỳ vọng. Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu rõ ràng cụ thể.
Bởi vậy, chất lượng không chỉ xem xét là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình. Khái niệm về nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là nguồn lực quan trọng nhất trong xã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hội và trong mỗi doanh nghiệp. Hiện nay, nguồn nhân lực được sử dụng phổ biến và thể hiện tính khoa học rất lớn trong việc chỉ ra nguồn lực con người không chỉ thể hiện về số lượng, chất lượng mà còn thể hiện tầm quan trọng của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” (WB. World Development Indicators. Con người là một thực thể sinh học - xã hội có mối quan hệ phức tạp trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cá nhân mỗi người nói riêng và của cộng đồng nói chung, theo khái niệm này khi nói đến nguồn nhân lực thì cần đề cập tới trình độ lành nghề, tới kiến thức, tới năng lực của con người. Theo tổ chức ngân hàng thế giới (WB) cho rằng “NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân” [9] theo quan niệm này, NNL được coi như là một nguồn vốn nhưng đây là nguồn vốn đặc biệt không giống như các nguồn vốn về công nghệ, vốn bằng tiền… nó thể hiện qua thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của con người.
Theo GS Phạm Minh Hạc: “NNL là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động, bao gồm thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai” (Phạm Minh Hạc, 2011), vậy nguồn nhân lực thể hiện qua hai khía cạnh tiềm năng lao động và nhân cách của con người. Hay theo PGS.TS Phạm Văn Đức: “Nguồn lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn từ hoàn thiện của lực lượng lao động” (Phạm Văn Đức, 1993). Như vậy NNL không chỉ đề cập đến số lượng, khả năng chuyên môn, thái độ với công việc mà còn ở khả năng tự hoàn thiện của bản thân lực lượng lao động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 NNL đây là một phạm trù thể hiện khả năng tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Tuy nhiên trong luận văn tác giả nghiên cứu cụ thể hơn vào vấn đề nguồn nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp. Theo Nguyễn Duy Hưng: “Nguồn nhân lực của một tổ chức là toàn bộ người lao động làm việc trong tổ chức đó theo một cơ cấu xác định với khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, được tổ chức quản lý và phát triển nhằm thúc đẩy vai trò nguồn lực hạt nhân trong quá trình thực thi sứ mạng của tổ chức” (Nguyễn Duy Hưng, 2013), theo quan điểm này nguồn nhân lực trong tổ chức bao gồm toàn bộ người lao động hoạt động trong tổ chức thực hiện các mục tiêu của tổ chức đề ra.TS Bùi Văn Nhơn: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” (Bùi Văn Nhơn, 2011), theo quan điểm này kể cả lao động thời vụ cứ doanh nghiệp trả lương thì được coi là nguồn nhân lực. Bởi vậy nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt cung cấp sức lao động cho chính doanh nghiệp, không chỉ xem xét đơn thuần là số lượng hay chất lượng mà là tiềm năng, sức mạnh tồn tại trong mỗi cá nhân người lao động. Khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực Khi đề cập đến chất lượng nguồn nhân lực không chỉ được biểu thị về số lượng mà còn biểu thị về chất lượng, nó được thể hiện ở trình độ học vấn, kỹ năng tay nghề của người lao động, thể hiện người lao động đã được đào tạo những gì đồng thời người lao động phải có sức khỏe để hoàn thành công việc.TS Bùi Văn Nhơn: “Chất lượng NNL gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó thể lực của NNL là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần.
Trí lực của NNL là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 kỹ năng lao động thực hành của người lao động, phẩm chất tâm lý xã hội như kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao” (Bùi Văn Nhơn, 2011). Theo quan điểm của giáo sư chất lượng NNL thể hiện qua 3 nội dung cụ thể đó là trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội.TS Mai Quốc Chánh thì “chất lượng NNL được xem xét trên các mặt trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất” (Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu, 2003), điều đó cho thấy có nhiều khía cạnh khác nhau để đánh giá về chất lượng NNL, chất lượng thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL đó là sức khỏe, trình độ và năng lực phẩm chất. Hay như quan điểm của GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng thì “chất lượng NNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ” (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2006). Theo quan điểm chất lượng NNL được xem xét trên 2 khía cạnh đó là trình độ và thể lực của người lao động.
Như vậy, theo tác giả có thể thấy chất lượng NNL được thể hiện cụ thể trên 3 khía cạnh đó là trí lực, thể lực và tâm lực, đây là ba nội dung then chốt của chất lượng NNL chính vì vậy với nội dung đề tài nghiên cứu của mình tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về ba vấn đề này. Vai trò nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty Khi khoa học công nghê, kỹ thuật phát triển như vũ bão với những ứng dụng khoa học vào hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều và đa dạng buộc công ty phải có những thay đổi để tồn tại và phát triển lớn mạnh. Một trong những vấn đề then chốt cho sự tồn tại và phát triển của mình đó chính là việc ngày nay các công ty rất chú trọng đến yếu tố con người trong tổ chức - yếu tố thành công của công ty. Với năng lực con người là không giới hạn nếu được phát huy, khai thác, sử dụng và gìn giữ.
Bởi vậy, công ty chú trọng đầu tư phát triển nâng cao chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lượng nguồn nhân lực trong tổ chức là hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, với việc đề cao nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ giúp công ty khai thác được khả năng tiềm ẩn của nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động và đặc biệt tạo ra lợi thế cạnh tranh to lớn về nguồn nhân lực trong tổ chức.3 Đặc điểm của công ty sản xuất linh kiện điện tử và các yêu cầu đặc thù về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngành linh kiện điện tử là ngành công nghiệp hỗ trợ có vai trò rất quan trong sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử, ngành này sẽ cung cấp các chi tiết, bộ phận để lắp ráp thành bộ phận hoàn chỉnh của sản phẩm điện tử. Khách hàng của ngành linh kiện điện tử là các nhà lắp ráp trong nước và nước ngoài đặt ở thị trường trong nước và các nhà lắp ráp nước ngoài đặt ở thị trường nước ngoài và thường là các công ty đa quốc gia. Thường các doanh nghiệp này chỉ đầu tư chuyên môn hóa sản xuất một loại sản phẩm hoặc một loại chi tiết nhất định chứ không sản xuất nhiều sản phẩm hay chi tiết cùng một lúc. Hoạt động của ngành này thường gắn liền với các doanh nghiệp lớn, trở thành vệ tinh của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chính.
Lao động làm việc trong ngành sản xuất lắp ráp linh kiện điện tử thường đòi hỏi chuyên môn cao vì đây là ngành công nghiệp sản xuất các chi tiết nhỏ, đòi hỏi có sự chính xác và tỉ mỉ cao.