CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực Vấn đề NNL được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu và đã đưa ra các quan niệm khác nhau về khái niệm NNL. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã quan niệm về bản chất của con người trên ba phương diện: Thứ nhất, con người là một thực thể sinh vật - xã hội: Con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh.
Con người tự nhiên là con người sinh học mang tính sinh học. Tính sinh học trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng và quá trình tâm lý trong con người là điều kiện quyết định sự tồn tại của con người, Ph. Ăngghen đã nhấn mạnh “bản chất cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát li khỏi đặc tính vốn có của con vật” [3; tr 146]. Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất của con người.
Đặc trưng quy định sự khác biệt của con người với loài vật là mặt phương diện xã hội của nó. Con người là thực thể xã hội là do các hoạt động xã hội của nó quy định, mà trước hết và quan trọng nhất là hoạt động lao động sản xuất, đã làm cho con người trở thành con người đúng nghĩa. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình, hình thành và phát triển ngôn ngữ, tư duy, xác lập mối quan hệ xã hội. Bởi vậy lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách trong cộng đồng xã hội.
Con người tạo ra xã hội đồng thời cũng là thành viên của xã hội. Mọi biểu hiện sinh hoạt của con người là biểu hiện và sinh hoạt của xã hội. Thứ hai, con người là chủ thể của lịch sử, con người với tư cách là một thực thể xã hội, bằng hoạt động thực tiễn tác động vào tự nhiên, cải biến giới 7 tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội. Con người thông qua hoạt động thực tiễn để làm phong phú giới tự nhiên, tái tạo một tự nhiên thứ hai theo đúng nghĩa của mình.
Hoạt động lao động sản xuất chính là tiền đề để con người tách khỏi thế giới động vật và đó cũng chính là hành động lịch sử đầu tiên của con người. Thứ ba, trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, con người vượt lên trên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Các mối quan hệ đó suy cho cùng đều mang tính xã hội, trong đó mối quan hệ giữa người với người là mối quan hệ bản chất bao trùm lên các mối quan hệ khác.Mác cho rằng “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [3; tr11].
Con người luôn cụ thể xác định, sống trong một điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình. Mác còn đưa ra quan niệm về giá trị sức lao động và nguồn lực con người, ông cho rằng, nhà tư bản sử dụng trong sản xuất không phải là sức lao động nói chung mà là hàng hóa sức lao động.
Họ mua sức lao động theo giá thị trường, nhưng lại tìm cách khai thác sức lao động của công nhân vượt quá giá trị đã quy định đó để chiếm đoạt giá trị thặng dư dưới nhiều hình thức như kéo dài thời gian lao động trong ngày, hoặc áp dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động. Phải tạo ra được một môi trường văn hóa để tất cả mọi người đều được làm việc như những nghệ sĩ sáng tạo, hoàn toàn làm chủ sản phẩm của mình, hoàn toàn tự do sử dụng sản phẩm ấy, không bị ràng buộc bởi sự phân công nào. Con người chính là nguồn cội của con người, con người sáng tạo ra con người. 8 Như vậy, chủ nghĩa Mác khái niệm NNL đã được nghiên cứu dưới góc độ nghiên cứu sức lao động của con người, lao động của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất làm cải biến và thay đổi xã hội loài người trong tiến trình phát triển của lịch sử.
Hiện nay cũng có rất nhiều các quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực như: Theo Liên hợp quốc, “Nguồn nhân lực là trình độ ngành nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người, hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [20; tr 3]. Theo quan niệm này, nguồn nhân lực được nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò trong phát triển kinh tế xã hội. Con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, thậm chí con người được coi là nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực. Theo David Begg, “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Cũng như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [6; tr22]. Theo góc nhìn này, để mang lại những giá trị cho tương lai, cần phải đầu tư để phát triển nguồn nhân lực. Khái niệm “nguồn nhân lực’’ được hiểu như khái niệm “nguồn lực con người”. Nó được sử dụng như một khái niệm công cụ để điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, NNL bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động.
Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động. NNL có nội hàm rộng, bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động của xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa….Nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động (số lượng), mà còn bao gồm sức mạnh của thể 9 chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, quốc gia được sử dụng và quá trình phát triển kinh tế xã hội. Dưới góc độ Kinh tế học một số nhà nghiên cứu thường xem NNL là năng lực xã hội: là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất trong dân cư đang sản xuất, tạo ra của cải vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người. Nguồn nhân lực được hiểu như vậy bao gồm cả tiềm năng lao động của bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động của một quốc gia, được pháp luật quy định.
Tiềm năng lao động đó được tính cho lực lượng lao động có khả năng lao động mà chưa được sử dụng như số lao động thất nghiệp, số lao động được đào tạo lại…. Bên cạnh đó NNL còn được xem là tính năng động của xã hội: sức lao động xã hội được giải phóng, được phát huy cả dạng sức lao động đang lao động, sản xuất, làm việc tạo ra của cải cho xã hội và cá nhân, tức là chỉ các tiềm năng lao động được giải phóng, đó còn được gọi là vốn nhân lực. Nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực xã hội của người lao động gồm số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về thể lực, trí lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực của con người trong quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Với cách hiểu như vậy, tác giả nhận thấy có cơ sở cho việc xác định cụ thể hơn nguồn nhân lực trong một xã hội nhất định ở một thời điểm xác định cụ thể.
Nguồn nhân lực chỉ toàn bộ tiềm năng của con người được đưa vào lao động nhưng không phải toàn bộ số lao động trong độ tuổi theo luật định. Từ góc độ kinh tế lao động, NNL được tính toán cụ thể hơn, đó là toàn bộ dân cư trong trạng thái phát triển bình thường, trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội. Nói cách khác nó là tất cả những người đang tham gia vào quá trình lao động với toàn bộ những năng lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Nó khác với các nguồn lực khác như nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất., là quá trình sử dụng nó tạo ra giá trị thặng dư, nhân lên giá trị của nó.
10 Ở góc độ Kinh tế học phát triển, NNL được xem là một trong những nguồn lực trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia. Đó là toàn bộ những người có khả năng lao động, quyết định trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Việc cung cấp NNL đúng theo yêu cầu của nền kinh tế và đời sống xã hội là rất quan trọng. Cách hiểu NNL như là toàn bộ những người có khả năng lao động theo luật định, là một giải pháp tiếp cận có thể lượng hóa NNL.
Có thể tính toán và dự báo được số lượng, tốc độ phát triển ở những giai đoạn nhất định của một quốc gia. Trên thực tế dù diễn đạt khác nhau nhưng các cách hiểu này đều mang chung một ý nghĩa nội hàm đó là: quy NNL về tổng số người trong độ tuổi lao động ở một quốc gia nhất định trong năm được tính toán.