CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nguồn nhân lực Từ khi phát triển các học thuyết về KT-XH trong các thế kỉ trước đến nay, khái niệm về NNL đã được nhiều nhà kinh tế học & quản lý trong và ngoài nước đưa ra dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.
Theo cách tiếp cận của tổ chức Liên hợp quốc, khái niệm về NNL bao gồm tất cả các yếu tố về kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người trong sự phát triển của kinh tế - xã hội (Nguyễn Sinh Cúc, 2014). Với cách tiếp cận này, NNL được nhấn mạnh ở góc độ chất lượng và vai trò của con người trong sự phát triển của kinh tế xã hội.Tổ chức Lao động quốc tế lại có một cách tiếp cận khác, họ định nghĩa NNL cũa mỗi quốc gia là toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động (Nguyễn Sinh Cúc, 2014). Với cách tiếp cận này, NNL được xét dựa trên các yếu tố về nhân khẩu học bao gồm vị trí địa lý, độ tuổi và thể lực. Tài liệu số (2020) đưa tin tại buổi gặp các cán bộ thành phố Hà Nội, Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải cho rằng: “Nguồn nhân lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta”.
Phát biểu này cho thấy, ngoài yếu tố về trình độ và năng lực, NNL tại mỗi quốc gia còn phải luôn có những phẩm, chất đạo đức cao thượng, gắn liền với tình yêu nước, tình yêu dân tộc. Giáo sư Phạm Minh Hạc (2001) cho rằng NNL được thể hiện thông qua số lượng dân cư và chất lượng con người tại từng thời điểm. Như vậy, số lượng và chất lượng dân cư sẽ phản ánh về khả năng và chất lượng của NNL tại địa phương đó cả trong quá khứ, hiện tại và dự báo tương lai. Võ Xuân Tiến (2010) phát biểu rằng : “Nguồn nhân lực của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm thể lực, trí lực,nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế xã hội nhất định”.
Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân cho rằng NNL là toàn bộ con người và các hành động của con người trong tổ chức đó tạo thành các hoạt động để duy trì và phát triển của tổ chức. 7 Ở một góc độ và phạm vi hẹp hơn là doanh nghiệp, NNL được hiểu là toàn bộ những NLĐ tham gia vào quá trình lao động và sản xuất tại doanh nghiệp đó. Mỗi NLĐ có năng lực, sức khỏe và phẩm chất khác nhau nhưng họ là nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp. Tựu chung lại, qua việc nghiên cứu các khái niệm về NNL kể trên, trong khóa luận này, NNL bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động đang tham gia vào quá trình làm việc tại các tổ chức.
Họ tham gia làm việc tại các tổ chức bằng sức khỏe (thể lực), năng lực chuyên môn (trí lực) và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp (Tâm lực) của họ. Chất lượng nguồn nhân lực Nguyễn Thị Hồng Cẩm (2013) đưa ra quan điểm: “Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của nguồn nhân định trong tổ chức, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành chất của NNL”. Trong giáo trình NNL của Đại học Lao động xã hội (2011) định nghĩa: “Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của NLĐ, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội, phẩm chất đạo đức, tác phong, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc, hiệu quả hoạt động lao động, thu nhập mức sống và sự thỏa mãn cá nhân”. Dựa trên tính kế thừa và phát triển các nghiên cứu đi trước, trong phạm vi khóa luận này, khái niệm về chất lượng NNL được hiểu như sau: Chất lượng NNL là toàn bộ các yếu tố cấu thành bên trong của NNL.Chất lượng NNL được đo lường bằng tổng hòa các yêu tố cấu thành đó, bào gồm: Thể lực, trí lực và tâm lực”.
➢ Yếu tố thể lực Được hiểu là trạng thái sức khỏe của NLĐ. Cũng theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa : “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật”. Như vậy, yếu tố thể lực hay trạng thái sức khỏe của NLĐ là sự phát triển hài hòa giữa hai thành tố quan trọng là thể chất ( khả năng vận động, mang vác) và thành tố tinh thần (khả năng dẻo dai, nhạy bén và ổn định) của hệ thống thần kinh điều khiển. Hiện nay, Bộ Y tế cũng có những tiêu chuẩn và thang đo về sức khỏe của NLĐ 8 như: Chiều cao, cân nặng, nội-ngoại khoa, tai-mũi-họng, các tật về mắt, các bệnh di truyền,… để xác định khả năng lao động của một người về yếu tố thể lực.
Yếu tố thể lực có yếu tố vô cùng quan trọng trong việc phân loại khả năng của mỗi cá nhân về loại hình công việc, điều kiện làm việc trong mỗi cơ quan, tổ chức. Đây cũng là những tiêu chí quan trọng để NLĐ tham gia thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao sức khỏe, thể tạng bản thân. ➢ Yếu tố trí lực Yếu tố trí lực bao gồm sự nhận thức về lý tính (khả năng tư duy,học tập, phân tích, khám phá, nhận định) và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình sinh sống. Sự liên hệ giữa trạng thái của nhận thức cùng kinh nghiệm thực tiễn sẽ chỉ đường cho các quyết định hành động trong quá trình làm việc.
Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm làm việc là thang đo về yếu tố trí lực đối với một NLĐ. Đây cũng là tiêu chí lứa chọn nhân lực cho các doanh nghiệp hiện nay, tùy vào yêu cầu của công việc, họ sẽ đưa ra các tiêu chí tuyển dụng đầu vào như bằng cấp, chứng chỉ, số năm kinh nghiệm, kỹ năng mềm,.… Trí lực cũng là một yếu tố vô cũng quan trọng trong đánh giá về chất lượng NNL. Tại mỗi cơ quan tổ chức có sự phát triển vượt trội thường có một đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc phong phú. ➢ Yếu tố tâm lực Yếu tố tâm lực bao gồm những phẩm chất đạo đức, cốt cách, tác phong và thái độ làm việc của NLĐ trong tổ chức.
Đây là yếu tố phản ánh nhân cách, nội tâm và nét đẹp văn hóa của NLĐ. Bác Hồ kính yêu đã răn dạy: “ Có đức mà không có tài là người vô dụng – Có tài mà không có đức là người bỏ đi”. Thật vậy, thái độ luôn quan trọng hơn trình độ. NLĐ dù yếu về thể lực, yếu về trí lực nhưng họ có thái độ chuẩn mực trong lao động: nêu cao ý chí cầu tiến, luôn nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc, hết mình vì lợi ích chung của tập thể thì họ vẫn luôn được trọng dụng.
Rèn luyện, tu dưỡng yếu tố tâm lực luôn được đề Cao trong mỗi tổ chức cơ quan. Điều này thể hiện ở việc xây dựng nội quy, quy chế, khẩu hiệu thực hiện và ý chí hành động tại mỗi doanh nghiệp. NLĐ luôn phải tu dưỡng đạo đức, phẩm chất song hành với tu dưỡng rèn luyện sức khỏe và trí tuệ. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nguyễn Sinh Cúc (2014) nhấn mạnh : “Phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tính thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực”.
Võ Xuân Tiến (2010) cho rằng : “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người. nó kết quả tổng hợp của cả 03 bộ phận cấu thành gồm: Giáo dục, Đào tạo và Phát triển.” Như vậy, nâng cao chất lượng NNL là tổng hợp các phương pháp, cách làm để làm tăng lên số lượng và chất lượng NNL hiện có đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức. Chất lượng tăng lên ở đây được hiểu là sự tăng lên cả về thể lực, trí lực và tâm lực trong mỗi cá nhân thuộc về tổ chức đó. Trong mỗi doanh nghiệp, nâng cao chất lượng NNL là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu, song hành với sự phát triển của doanh nghiệp.
Bao gồm các kế hoạch, nội dung triển khai nhằm phát huy tính hiệu quả của NNL (chất lượng) và ở từng cấp độ quy mô (số lượng) trong doanh nghiệp của mình. Xét trong các yếu tố cấu thành nên NNL, doanh nghiệp cần hoạch địch cụ thể các nội dung liên quan trong việc nâng cao chất lượng NNL như sau: ➢ Nâng cao thể lực: Nâng cao thể lực được hiểu ở đây gồm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. Khi NNL trong mỗi doanh nghiệp luôn có sức khỏe ổn định, tinh thần lạc quan, thoải mái sẽ tạo nên hiệu quả tốt trong chất lượng công việc và ngược lại. ➢ Nâng cao trí lực: Nâng cao trí lực bao gồm các hoạt động trau dồi và bồi dưỡng trình độ chuyên môn, các bộ kỹ năng, kinh nghiệm làm việc,…Trí lực của đội ngũ nhân sự trong mỗi doanh nghiệp luôn là sức cạnh tranh lớn nhất, bền vững nhất mà doanh nghiệp sở hữu so với các đối thủ khác.
➢ Nâng cao tâm lực: Nâng cao tâm lực có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động nâng cao chất lượng NNL. Ngoài các yếu tố về thể lực, trí lực, NLĐ cần được bồi đắp và tu dưỡng đạo đức, phẩm chất cần thiết để hoàn thiện hơn nữa nét đẹp chân – thiện – mỹ trong văn hóa doanh nghiệp. Công ty chứng khoán và Hoạt động môi giới chứng khoán • Khái niệm và đặc điểm Công ty chứng khoán Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính định nghĩa Công ty chứng khoán là một tổ chức hoạt động có tư cách pháp nhân, có giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp phép. Hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán bao gồm: Tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và môi giới chứng khoán.