CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO THÔNG QUA BỆNH VIỆN 1. Các khái niệm chủ yếu 1. Khoa học, nghiên cứu khoa học 1.
Khoa học [19;tr.27] - Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy. - Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích luỹ một cách rời rạc, thường là ngẫu nhiên từ trong đời sống hằng ngày. Con người cảm nhận thế giới khách quan từ khi chào đời, chịu sự tác động của thế giới khách quan, buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên, trong lao động và trong ứng xử. Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình huống của con người, những hiểu biết kinh nghiệm được tích luỹ chuyển dần từ những hiểu biết về từng sự vật riêng lẻ đến những mối liên hệ mang tính hệ thống; - Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động NCKH, là hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên một hệ thống phương pháp khoa học.
Tri thức khoa học được phát triển từ tri thức kinh nghiệm, nhưng nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm. Nghiên cứu khoa học Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm NCKH. Vũ Cao Đàm: - Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người. Về mặt thao tác, có thể định nghĩa, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá [20;tr.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đồng thời nghiên cứu khoa học đảm bảo mục tiêu cụ thể sau [20;tr.36]: a,Tính mới Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học. Trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện.Tính tin cậy Một kết quả nghiên cứu đạt được phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện (quan sát hoặc thí nghiệm) giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Khi đó có thể xem kết quả ấy đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng.Tính thông tin Đây là đặc điểm quan trọng của nghiên cứu khoa học, bởi vì bất kỳ sản phẩm nào của nghiên cứu khoa học (như: báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức sản xuất mới.) đều mang đặc trưng thông tin, là kết quả của quá trình khai thác và xử lý thông tin. d,Tính khách quan Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người NCKH.
Trong xã hội học khoa học, người ta xem đó là chuẩn mực giá trị. e,Tính rủi ro Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể gặp thất bại. Đó là tính rủi ro của nghiên cứu. Sự thất bại trong NCKH có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn, thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy; trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp; năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế,.
f,Tính kế thừa Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu: một người nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng cửa cố thủ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong những lý luận và phương pháp luận “riêng có”, “của mình” mà bài xích sự thâm nhập về lý luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học dù rất khác nhau. Hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học. g,Tính cá nhân Dù là công trình NCKH do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính chất quyết định. Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.
Đào tạo và hoạt động đào tạo 1. Đào tạo Đào tạo là “Quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp về những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước. Hình thức tổ chức đào tạo cơ bản là các cơ sở đào tạo chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngoài ra còn có các hình thức đào tạo không chính quy ngày càng được mở rộng như đào tạo tại chức, đào tạo từ xa, đào tạo cấp tốc vv, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Ngày nay, đào tạo không chỉ là quá trình chuyển giao một chiều mà còn bằng các phương tiện dạy học hiện đại mà các cơ quan đào tạo đang dần tiến tới hợp tác song phương với người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác chiếm lĩnh lấy tri thức, tự trang bị hành trang nghề nghiệp, chuyên môn.
Đó là quá trình đào tạo được chuyển biến thành quá trình tự đào tạo của người học. Chỉ khi nào đạt được chuyển biến như vậy thì hiệu quả đào tạo mới cao và mới có lợi ích thiết thực cho bản thân và xã hội” [26;tr. Hoạt động đào tạo Hoạt động đào tạo là các hoạt động trong nhà trường và cơ sở đào tạo nhằm thực hiện các nội dung về mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đội ngũ GV, người học, công tác kiểm tra đánh giá, công tác cơ sở vật chất, công tác tài chính, vv… 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo PGS. Lê Đức Ngọc thì “Chương trình đào tạo là một văn bản pháp quy về kế hoạch tổ chức đào tạo một văn bằng, bao gồm: Mục tiêu đào tạo; nội dung và yêu cầu bắt buộc, tự chọn hay tùy ý, phân bố thời lượng của các môn học; kế hoạch thực hiện chương trình và điều kiện xét cấp văn bằng”[32].
Trần Bá Hoành cho rằng: Chương trình đào tạo phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các thành phần cấu trúc của quá trình đào tạo: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá, trong đó mối quan hệ giữa mục tiêu – nội dung – phương pháp là cốt lõi. Chương trình đào tạo hướng về quá trình đào tạo diễn ra ở cơ sở đào tạo (lớp học, phòng thí nghiệm) chứ không phải là bản thiết kế nội dung đào tạo. Chương trình đào tạo quan tâm không chỉ hoạt động dạy mà đặc biệt quan tâm đến sản phẩm đào tạo. Văn bản chương trình đào tạo chứa đựng những thông tin cần thiết về mục tiêu, nội dung đào tạo, phương pháp tổ chức hoạt động dạy và học, các phương tiện thiết bị để tiến hành đào tạo, các hình thức và tiêu chí đánh giá kết quả đào tạo [27].
Chất lượng Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý: - “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật, cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [41;tr. -Theo Tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9000:1994 đã định nghĩa: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho một thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn”. Như vậy, chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính bản chất hàm chứa trong sản phẩm ấy không những đáp ứng những yêu cầu, những mục tiêu và chuẩn mực đã được xác định, được “công bố” rộng rãi mà còn là sự đáp ứng các nhu cầu sử dụng “tiềm ẩn” của khách hàng (người sử dụng sản phẩm) trong những điều kiện cụ thể (vẫn được đo đếm bằng mức độ thỏa mãn của khách hàng). 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Bệnh viện Theo WHO, “BV là một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được chăm sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh. Công tác ngoại trú của bệnh viện tỏa tới tận hộ gia đình đặt trong môi trường của nó. BV còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh vật xã hội” [16;tr. Trong thời gian gần đây, BV được coi là một loại tổ chức xã hội chủ chốt cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh và toàn xã hội.
Đó là chẩn đoán, chữa trị bệnh tật cũng như là nơi người ốm dưỡng bệnh và phục hồi sức khỏe. Qua đó thấy rằng, BV là một tổ chức rất phức tạp, có nhiệm vụ phục vụ lợi ích của toàn xã hội qua việc cung cấp các dịch vụ phòng và chữa bệnh bên cạnh chức năng là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế. Những bước tiến của xã hội trong thời gian qua đã làm thay đổi cơ bản khái niệm và quan niệm của mọi người về BV. Vì thế, việc tổ chức và quản lý BV cũng phải thay đổi tương ứng.
Quy chế của bệnh viện Ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT, ngày 19/09/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế , chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện hạng 1 gồm [9;tr.2]: * Cấp cứu – khám bệnh – chữa bệnh: a. Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc các Bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú. Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của Nhà nước. Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ bệnh tật từ các nơi chuyển đến cũng như tại địa phương nơi Bệnh viện đóng.
Tổ chức khám giám định sức khoẻ khi hội đồng giám định y khoa trung ương hoặc tỉnh, thành phố, trưng cầu; khám giám định pháp y khi cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Đào tạo cán bộ y tế: a. Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế ở bậc trên Đại học, Đại học và trung học.