CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH. Dự án đầu tư xây dựng công trình. Khái niệm về dự án. Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 9000:2000): “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và kiểm soát, có thời hạn bắt đầu vào kết thúc, được tiến hành để đạt được mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”[8]. Dự án đầu tư là gì? DAĐT là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Theo Điều 3 Luật đầu tư 61/2020/QH14: DAĐT là là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [5]. Dự án đầu tư xây dựng.
“Dự án đầu tư xây dựng (DAĐTXD), theo Điều 3 Luật xây dựng, là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị DAĐTXD, dự án được thể hiện thông 4 qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng” [6]. DAĐTXD đóng vai trò quan trọng trong quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của đất nước. Đối với chủ đầu tư, DAĐTXD là một cơ sở quan trọng nhất, chứng minh sự cần thiết, mục tiêu, hiệu quả đầu tư của dự án, để nhà đầu tư quyết định có nên tiến hành đầu tư dự án hay không; là công cụ, phương tiện để tìm đối tác bỏ vốn đầu tư cho dự án và thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ tài trợ hoặc cho vay vốn.
DAĐTXD cũng là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án. Đồng thời DAĐTXD là căn cứ quan trọng để theo dõi đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác dự án và để soạn thảo hợp đồng liên doanh cũng như để giải quyết các mối quan hệ tranh chấp giữa các đối tác trong quá trình thực hiện dự án. Đối với nhà tài trợ và cho vay vốn, DAĐTXD là căn cứ quan trọng để các cơ quan này xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự án hay không và nếu tài trợ thì tài trợ đến mức độ nào để đảm bảo rủi ro ít nhất. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, DAĐTXD là tài liệu quan trọng để các cấp có thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư; và là căn cứ pháp lý để toà án xem xét, giải quyết khi có sự tranh chấp giữa các bên tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này.
Như vậy, tuy có nhiều khái niệm về DAĐT nói chung và DAĐTXD nói riêng nhưng đều bao gồm các thành phần chính sau: 5 - Có mục tiêu kinh tế xã hội rõ ràng: đối với chủ đầu tư đó là mục đích thu hồi vốn, tạo lợi nhuận và vị thế phát triển mới của doanh nghiệp; đối với xã hội đó là việc phù hợp với quy hoạch định hướng phát triển, kinh tế, tạo thêm việc làm và sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái; - Có các nguồn lực: vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu… giới hạn nhất định; - Có một hệ thống các giải pháp đồng bộ, để thực hiện các mục tiêu, tạo ra các kết quả cụ thể; - Có các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng. “Trình tự đầu tư xây dựng có 03 giai đoạn gồm chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ” [6]. “Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần trong đó mỗi dự án thành phần có thể vận hành độc lập, khai thác sử dụng hoặc được phân kỳ đầu tư để thực hiện thì dự án thành phần được quản lý thực hiện như một dự án độc lập.
Việc phân chia dự án thành phần hoặc phân kỳ đầu tư phải được quy định trong nội dung quyết định đầu tư” [6]. 6 “Căn cứ điều kiện cụ thể của dự án, người quyết định đầu tư quyết định việc thực hiện tuần tự hoặc kết hợp, xen kẽ các công việc trong giai đoạn thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng” [6]. Trình tư đầu tư xây dựng 1. Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: - Khảo sát xây dựng; - Lập, thẩm định, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); - Lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng; - Lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi để phê duyệt/quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án; 7 1.
Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: - Chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); - Khảo sát xây dựng; - Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; - Cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); - Lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; - Thi công xây dựng công trình; - Giám sát thi công xây dựng; - Tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; - Vận hành, chạy thử; - Nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng; - Bàn giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác; 1. Giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc: - Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác. Tùy theo điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án, trình tự các công việc nêu trên có thể thực hiện tuần tự hoặc kết hợp, xen kẽ. Trong luận văn này tác giả chọn giai đoạn thực hiện dự án (Lập dự toán xây dựng công trình) để làm đề tài nghiên cứu.
Tổng quan về dự toán xây dựng công trình. Khái niệm, mục đích, vai trò, ý nghĩa, nguyên tắc xác định dự toán 1. “Dự toán xây dựng là chi phí cần thiết để xây dựng công trình, thực hiện gói thầu, công việc xây dựng được xác định trên cơ sở khối lượng tính toán từ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, yêu cầu công việc phải thực hiện và định mức, giá xây dựng” [4]. “Nội dung dự toán xây dựng gồm chi phí về xây dựng, thiết bị, quản lý dự án, tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác và dự phòng” [4].
- Tại thời điểm lập dự toán, việc thi công xây dựng chưa xảy ra, dự toán được lập nhằm giúp CĐT dự tính được gần như chính xác số tiền cần chuẩn bị cho việc thực hiện đầu tư xây dựng công trình. - Cơ sở để thực hiện lựa chọn nhà thầu, thương thảo ký hợp đồng. - Cơ sở để thẩm tra, quyết toán. - Căn cứ để phê duyệt nguồn vốn đầu tư.
Vai trò, ý nghĩa của dự toán. Dự toán xây dựng công trình đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch phân bổ nguồn vốn cho dự án đầu tư xây dựng, là cơ sở cho công tác kiểm soát, quản lý các chi phí của dự án. Dự toán xây dựng công trình là cơ sở để xác định giá gói thầu, giá xây dựng công trình, là căn cứ để đàm phán ký kết hợp đồng, thanh toán với nhà thầu trong trường hợp chỉ định thầu. 9 Đối với việc đầu tư vốn xây dựng cơ bản cho công trình thì dự toán là cơ sở để lập kế hoạch, thuyết phục ngân hàng đầu tư và cấp phát vốn vay.
Ngân hàng sẽ thực hiện hạch toán và kiểm tra chi phí trong phạm vi dự toán, khi sử dụng hết mức dự toán thì việc đầu tư sẽ bị ngừng lại. Đối với đơn vị thi công công tác dự toán là cơ sở để đơn vị đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức xây dựng thông qua việc so sánh các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật trong thực tế với kế hoạch và lựa chọn các phương án thiết kế xây dựng. Khi xác định giá thành kế hoạch của công tác xây lắp cũng xuất phát từ giá trị dự toán. Từ đó tính ra được thu nhập chịu thuế tính trước cũng như mức tiết kiệm do hạ giá thành công tác xây lắp.
Cuối cùng, do công tác dự toán có mối liên hệ với các tổ chức khác trong xây dựng nên tài liệu dự toán là tài liệu quan trọng để tính toán các chỉ tiêu kinh tế khác. Nguyên tắc xác định dự toán “Dự toán xây dựng phải được tính đúng, tính đủ theo từng dự án, công trình, gói thầu xây dựng phù hợp với yêu cầu thiết kế, điều kiện xây dựng và mặt bằng giá thị trường” [4] 1. Phân loại dự toán xây dựng công trình. Tổng dự toán.
Tổng dự toán là toàn bộ chi phí cần thiết dự tính để đầu tư xây dựng các công trình, hạng mục công trình thuộc dự án. Tổng dự toán được xác định ở bước thiết kế kĩ thuật, đối với trường hợp thiết kế kĩ thuật 3 bước, thiết kế bản vẽ thi công đối với trường hợp 2 bước và 1 bước là cơ sở để quản lý chi phí xây dựng công trình.