Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên "Nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Trung thực hiện, thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước. Luận án giải quyết một vấn đề chiến lược trong công tác quân sự, quốc phòng địa phương đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận chứng xuất phát từ vị trí địa chính trị, quân sự xung yếu của địa bàn Tây Nguyên trong thế trận phòng thủ chung của cả nước. Lực lượng dự bị động viên là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ vai trò bổ sung trực tiếp cho lực lượng thường trực khi có tình huống chiến tranh xảy ra, đồng thời trực tiếp củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân tại chỗ. Huyện ủy là cấp ủy trực tiếp quán triệt và hiện thực hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về quân sự, quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ và lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Tuy nhiên, thực tiễn lãnh đạo của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên bộc lộ những hạn chế: nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy và chính quyền cơ sở chưa đúng mức; sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị chưa được phát huy đầy đủ; công tác phối hợp giữa cơ quan quân sự huyện với đơn vị nhận nguồn trong bổ nhiệm, sắp xếp quân nhân dự bị còn sai sót; việc quản lý di biến động và hoàn cảnh gia đình của lực lượng dự bị động viên khi đi làm ăn xa chưa kịp thời. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá, yêu cầu nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên trở thành đòi hỏi cấp thiết. Cho đến thời điểm đề tài được triển khai, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về vấn đề này dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
Mục đích nghiên cứu: Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động lãnh đạo này trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, khái quát giá trị của các công trình đã công bố và xác định những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết.
- Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên.
- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng lãnh đạo, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên.
- Làm rõ những yếu tố tác động, xác định yêu cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo và chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy; không bao gồm các thị ủy và thành ủy trực thuộc các tỉnh ủy trên địa bàn Tây Nguyên.
- Về không gian: Khảo sát thực tế tại 10 huyện thuộc các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên. Đối tượng tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến là cán bộ đại diện các cơ quan chức năng của huyện ủy và Ban Chỉ huy quân sự huyện.
- Về thời gian: Nguồn tư liệu, số liệu khảo sát thực tế phục vụ luận án được giới hạn chủ yếu từ năm 2015 đến năm 2021. Các giải pháp đề xuất định hướng giá trị vận dụng thực tiễn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả hệ thống hóa tình hình nghiên cứu theo các nhóm công trình trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:
Nhóm công trình khoa học nước ngoài:
- Về xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang, lực lượng dự bị động viên: Gờ-Ra-Mi-An (1986) trong công trình Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự lực lượng vũ trang Xô Viết đã tổng kết vai trò của lực lượng dự bị chiến lược, khẳng định thời chiến có từ 10% đến 20% nhân dân bị động viên vào hàng ngũ lực lượng vũ trang. Chương Tư Nghị (2006) trong cuốn Công tác đảng, công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc nhấn mạnh nguyên tắc "thời bình quân chính là dân" nhằm giảm chi phí quân sự, phục vụ hiện đại hóa, đồng thời phân tích định hướng "hai chuyển biến căn bản" của quân đội Trung Quốc. Kim Kiến Trung (2014) qua bài viết "Xác định đúng mục tiêu xây dựng quân đội vững mạnh, nâng cao chất lượng lực lượng dự bị động viên" phản ánh quan điểm huấn luyện lực lượng dự bị phải nghiêm khắc, bám sát thực tế chiến đấu tương đương lực lượng thường trực.
- Về hoạt động lãnh đạo lực lượng vũ trang: I. Mét-Nhi-Cốp (1972) trong Đảng Cộng sản người lãnh đạo và giáo dục các lực lượng vũ trang Xô Viết luận giải nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với mọi khâu trong quân đội. Xu-Li-Mốp và V. Se-Li-Ắc (1980) với cuốn Sự lãnh đạo khoa học trong các lực lượng vũ trang xô viết khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cơ bản nhất của công tác xây dựng quân sự. Xê-Rê-Kin (1983) tiếp tục khẳng định vai trò quyết định của khâu tổ chức thực hiện đường lối quân sự của Đảng. Văn kiện Điều lệ công tác đảng ủy quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc (2004) gồm 7 chương, 33 điều, quy chế hóa nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội và cơ chế tập trung dân chủ. Bun-Phêng Sỉ-Pa-Xợt (2008) nghiên cứu về nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng trong Đảng bộ Quân đội nhân dân Lào.
Nhóm công trình khoa học trong nước:
- Về xây dựng và hoạt động của lực lượng dự bị động viên: Phạm Ngọc Phán (2001) đề xuất 6 biện pháp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên. Trần Phước Nha (2002) nghiên cứu xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị tại Quân khu 5. Tổng cục Chính trị (2004) chuẩn hóa quy trình, nghiệp vụ công tác sĩ quan dự bị. Phạm Ngọc Giới (2007) xác định nguyên tắc xây dựng bệnh viện dã chiến dự bị động viên từ ngành y tế dân sự (tỷ lệ động viên không quá 15% cán bộ chuyên môn dân y và tỷ lệ nữ dưới 30%). Nguyễn Huy Hiệu (2010), Trần Trọng Trung (2015), Trần Hoài Trung (2017), Trịnh Vương Hồng (2019) tổng kết kinh nghiệm nghệ thuật quân sự, khẳng định vị trí chiến lược của lực lượng dự bị trong lịch sử kháng chiến và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Lê Văn Đính và Vũ Anh Tuấn (2014) chỉ rõ đặc điểm phân tán của lực lượng dự bị động viên bộ đội địa phương tại Tây Nguyên và yêu cầu tổ chức động viên khẩn cấp. Trần Đình Minh (2001) nghiên cứu tạo nguồn lực lượng dự bị động viên cấp huyện vùng đồng bằng phía Bắc. Trịnh Xuân Thu (2009) tập trung vào lực lượng dự bị động viên hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh Tây Nguyên. Nguyễn Thế Hải (2017) khảo sát công tác đảng, công tác chính trị xây dựng quân nhân dự bị trên địa bàn Quân khu 7. Nguyễn Tân Cương (2019) đề xuất đồng bộ các giải pháp xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng cao.
- Về hoạt động lãnh đạo lực lượng vũ trang địa phương: Hồ Khang (2014) phân tích tư tưởng quân sự Việt Nam giai đoạn 1945-1975 về nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Trần Tất Thắng (2018) nghiên cứu năng lực lãnh đạo công tác quân sự, quốc phòng của Đảng ủy quân sự tỉnh thuộc Quân khu 3. Trần Ngọc Hồi (2020) nghiên cứu sự lãnh đạo của tỉnh ủy, thành ủy đối với công tác quốc phòng địa phương. Bùi Anh Thi (2020) phân tích chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân của đảng ủy cấp xã trên địa bàn Quân khu 3.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các tài liệu hiện có đã giải quyết nhiều khía cạnh về kỹ thuật quân sự, hậu cần, huy động hoặc vai trò lãnh đạo ở cấp tỉnh ủy, đảng ủy quân sự, đảng ủy cấp xã. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống bản chất, tiêu chí đánh giá, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của cấp huyện ủy trên một địa bàn đặc thù như Tây Nguyên. Luận án của Nguyễn Hữu Trung tập trung lấp đầy khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quân sự, quốc phòng; nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang; các chỉ thị, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng cơ sở; quan điểm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ và quy định của pháp luật (Luật Lực lượng dự bị động viên năm 2019, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, các Nghị định số 04/2020/NĐ-CP, Nghị định số 78/2020/NĐ-CP của Chính phủ).
Phương pháp nghiên cứu: Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp kết hợp lịch sử với lôgíc;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch;
- Phương pháp hệ thống cấu trúc;
- Phương pháp thống kê và so sánh;
- Phương pháp tổng kết thực tiễn;
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến khảo sát thực tế tại 10 huyện trên địa bàn Tây Nguyên, thu thập thông tin từ cán bộ các cơ quan tham mưu của huyện ủy (Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Ủy ban Kiểm tra, Văn phòng huyện ủy) và cán bộ Ban Chỉ huy quân sự huyện;
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các nhà khoa học, cán bộ chỉ huy quân sự và lãnh đạo địa phương.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng; nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Quân khu 5, Quân khu 7; báo cáo sơ kết, tổng kết công tác quân sự, quốc phòng và xây dựng lực lượng vũ trang của Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, Ban Chỉ huy quân sự các huyện trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 2015-2021; số liệu điều tra, thống kê xã hội học do chính tác giả tiến hành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này cấu trúc gồm 3 tiết, đánh giá toàn diện các công trình khoa học trong và ngoài nước, đồng thời xác lập vị trí nghiên cứu độc lập của luận án:
- Điểm luận các nghiên cứu quốc tế từ Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Lào về nghệ thuật tổ chức lực lượng dự bị, công tác đảng - công tác chính trị và cơ chế Đảng lãnh đạo lực lượng vũ trang.
- Phân tích các công trình trong nước về xây dựng lực lượng dự bị động viên, công tác sĩ quan dự bị, bảo đảm y tế dã chiến, thế trận phòng thủ Tây Nguyên và năng lực lãnh đạo công tác quân sự địa phương.
- Khẳng định hai giá trị lớn của các công trình tiền nhiệm: giá trị lý luận (làm sâu sắc nguyên tắc Đảng lãnh đạo lực lượng vũ trang, quy luật xây dựng quân đội) và giá trị thực tiễn (cung cấp kinh nghiệm, mô hình tổ chức, phương thức chỉ đạo).
- Xác định 4 vấn đề trọng tâm mà luận án tập trung giải quyết: (1) Khái quát lý luận về xây dựng lực lượng dự bị động viên cấp huyện tại Tây Nguyên; (2) Luận giải nội dung, phương thức và tiêu chí đánh giá chất lượng lãnh đạo của huyện ủy; (3) Đánh giá thực trạng, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm giai đoạn 2015-2021; (4) Dự báo yếu tố tác động, xác định yêu cầu và đề xuất hệ thống giải pháp có giá trị thực tiễn đến năm 2030.
Chương 2: Những vấn đề lý luận, thực tiễn chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên
Chương 2 gồm 3 tiết, xây dựng hệ thống khái niệm, khung phân tích lý luận gắn liền với thực tiễn địa bàn Tây Nguyên:
- Phân tích đặc điểm địa bàn Tây Nguyên: Gồm 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng), diện tích tự nhiên 54.474 km2 (chiếm 16,8% cả nước), 580,4 km đường biên giới trên bộ tiếp giáp Lào và Campuchia với 5 cửa khẩu chính (Bờ Y, Lệ Thanh, Bu Prăng, Đắk Peur, Đắk Ruê). Về hành chính, toàn vùng có 62 đơn vị cấp huyện (gồm 6 thành phố, 3 thị xã, 53 huyện). Dân cư gồm 49 dân tộc (12 dân tộc bản địa, 37 dân tộc nơi khác đến; dân tộc Kinh chiếm 92,3%). Về tôn giáo, có 4 tôn giáo chính gồm Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài với khoảng 2.884 tín đồ (chiếm 34,7% dân số). Mật độ dân số bình quân 137 người/km2, tại các huyện miền núi là 90 người/km2 và một số huyện biên giới chỉ đạt 30 - 40 người/km2.
| Tiêu chí |
Số liệu/Nội dung theo văn bản |
Tỷ lệ so với tổng số |
| Diện tích tự nhiên toàn vùng |
54.474 km2 |
16,8% diện tích cả nước |
| Chiều dài đường biên giới |
580,4 km (giáp Lào, Campuchia) |
5 cửa khẩu chính |
| Đơn vị hành chính cấp huyện |
62 đơn vị (6 TP, 3 TX, 53 huyện) |
Phạm vi nghiên cứu: 53 huyện |
| Tỷ lệ cư dân nông thôn |
Phân bố tại địa bàn các huyện |
70,88% dân số |
| Tỷ lệ cư dân thành thị |
Phân bố tại địa bàn đô thị |
29,12% dân số |
| Trình độ học vấn QNDB (12/2020) |
- Trung học cơ sở |
11,52% |
|
- Trung học phổ thông |
56,34% |
|
- Cao đẳng |
16,68% |
|
- Đại học |
15,46% |
- Xây dựng quan niệm: Lực lượng dự bị động viên của các huyện trên địa bàn Tây Nguyên là toàn thể quân nhân dự bị (sĩ quan dự bị, quân nhân chuyên nghiệp dự bị, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng 1 và hạng 2) và phương tiện kỹ thuật dự bị được đăng ký, quản lý, sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên; được huấn luyện, diễn tập và thực hiện các nhiệm vụ; sẵn sàng bổ sung cho lực lượng thường trực của Quân khu 5, Quân khu 7 và Bộ Quốc phòng khi có lệnh.
- 5 đặc điểm của lực lượng dự bị động viên cấp huyện tại Tây Nguyên:
- Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy, quản lý của chính quyền và chỉ huy của cơ quan quân sự.
- Quân nhân dự bị đa dạng thành phần xuất thân, cơ cấu dân tộc, tôn giáo và trình độ không đồng đều.
- Phân bố không đồng đều giữa các huyện, các tỉnh, mật độ chênh lệch lớn giữa vùng đồng bằng, miền núi và biên giới.
- Phần lớn sống ở nông thôn, làm nông nghiệp, lao động tự do, đăng ký tạm vắng đi làm ăn xa chiếm tỷ lệ lớn.
- Phương tiện kỹ thuật dự bị tuy được tăng cường nhưng chất lượng và chủng loại còn nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu.
- 4 vai trò của lực lượng dự bị động viên: Góp phần xây dựng tiềm lực quốc phòng địa phương; bổ sung lực lượng cho các đơn vị chủ lực; tham gia phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội; củng cố an ninh chính trị, phòng chống "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ.
- Khái niệm xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện: Là tổng thể các chủ trương, biện pháp của hệ thống chính trị trong tạo nguồn, đăng ký, quản lý, biên chế, trang bị, huấn luyện, diễn tập, bảo đảm chế độ chính sách.
- 5 nội dung xây dựng lực lượng: (1) Tạo nguồn, đăng ký, quản lý quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật; (2) Tổ chức, biên chế thành 5 loại hình đơn vị dự bị động viên: đơn vị thiếu (TH), đơn vị khung thường trực (KTT), đơn vị không khung thường trực (KKTT), đơn vị chuyên môn thời chiến (CM), đơn vị xây dựng mới (XDM); (3) Huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu; (4) Tiến hành công tác đảng, công tác chính trị; (5) Bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính.
- Khái niệm chất lượng lãnh đạo của huyện ủy: Phản ánh mức độ đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các chủ trương, nghị quyết; năng lực tổ chức thực hiện; hiệu lực kiểm tra, giám sát của huyện ủy, thể hiện qua kết quả hoàn thành chỉ tiêu biên chế, chất lượng chính trị và khả năng sẵn sàng động viên của lực lượng dự bị động viên.
Chương 3: Thực trạng chất lượng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên
Chương 3 gồm 2 tiết, đánh giá dựa trên khảo sát thực tế giai đoạn 2015-2021:
- Đánh giá ưu điểm: Các huyện ủy đã quán triệt nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ban hành đồng bộ nghị quyết chuyên đề, chỉ thị hằng năm về công tác quân sự, quốc phòng; chỉ đạo cơ quan quân sự làm tốt chức năng tham mưu; phối hợp giữa các ban, ngành đoàn thể trong tạo nguồn và huy động; tổ chức huấn luyện, diễn tập chỉ huy - cơ quan, diễn tập khu vực phòng thủ đạt chỉ tiêu; giữ vững tỷ lệ đảng viên trong các đơn vị dự bị động viên.
- Chỉ rõ hạn chế: Nhận thức của một số cấp ủy viên, lãnh đạo ban, ngành về vai trò của lực lượng dự bị động viên chưa sâu sắc; năng lực cụ thể hóa nghị quyết của cấp trên ở một số huyện ủy còn rập khuôn, chưa sát đặc thù địa bàn; việc lãnh đạo phối hợp giữa Ban Chỉ huy quân sự huyện với các đơn vị nhận nguồn trong sắp xếp, bổ nhiệm quân nhân dự bị có nơi chưa chặt chẽ, chưa đúng chuyên nghiệp quân sự; công tác quản lý di biến động của quân nhân dự bị làm ăn xa, lao động thời vụ còn bị động, tỷ lệ vắng mặt trong tập trung huấn luyện ở một số đơn vị còn cao; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật chuyên dụng thiếu đồng bộ.
- Phân tích nguyên nhân:
- Khách quan: Địa bàn rừng núi chia cắt, kinh tế - xã hội còn khó khăn, đời sống người dân phụ thuộc nông nghiệp mùa vụ; âm mưu chống phá tinh vi của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo.
- Chủ quan: Trách nhiệm lãnh đạo của một số huyện ủy chưa cao; công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên; cơ chế trao đổi thông tin giữa địa phương xây dựng nguồn và đơn vị nhận nguồn chưa thông suốt; năng lực tham mưu của cơ quan quân sự cơ sở có mặt còn hạn chế.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm:
- Phải thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ xây dựng lực lượng dự bị động viên.
- Quá trình lãnh đạo phải bám sát thực tiễn, phân loại chính xác nguồn động viên, thực hiện đúng phương châm "gần, gọn địa bàn".
- Phát huy vai trò tham mưu nòng cốt của cơ quan quân sự huyện và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị.
- Gắn xây dựng lực lượng dự bị động viên với phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm tại chỗ cho quân nhân xuất ngũ.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết và biểu dương khen thưởng kịp thời.
Chương 4: Yêu cầu và những giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay
Chương 4 gồm 2 tiết, xác định hệ thống định hướng và giải pháp ứng dụng đến năm 2030:
- Dự báo những yếu tố tác động: Tình hình an ninh chính trị khu vực và thế giới; sự phát triển vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh hiện đại; các thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên địa bàn Tây Nguyên; điều kiện phát triển kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa làm gia tăng sự dịch chuyển lao động tự do.
- Xác định các yêu cầu nâng cao chất lượng lãnh đạo: Phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; bảo đảm xây dựng lực lượng có số lượng đủ, cơ cấu hợp lý, chất lượng chính trị cao; lãnh đạo đồng bộ từ khâu tạo nguồn, quản lý đến huấn luyện; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế, an sinh xã hội.
- Hệ thống các giải pháp cơ bản:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các huyện ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân về vị trí, vai trò của lực lượng dự bị động viên. Trọng tâm là đổi mới công tác tuyên truyền, quán triệt Luật Lực lượng dự bị động viên năm 2019 và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
- Nâng cao năng lực ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy. Chủ trương lãnh đạo phải sát hợp với điều kiện kinh tế, cơ cấu dân cư, địa hình của từng huyện miền núi, biên giới.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với các cơ quan chức năng, phát huy đầy đủ vai trò tham mưu nòng cốt của Ban Chỉ huy quân sự huyện; tăng cường hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị nhận nguồn của Quân khu 5, Quân khu 7 và Bộ Quốc phòng trong sắp xếp, bổ nhiệm quân nhân dự bị.
- Lãnh đạo thực hiện tốt các khâu, các bước quản lý nguồn, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập và khả năng sẵn sàng động viên; chú trọng quản lý di biến động của lực lượng lao động nông nghiệp, hỗ trợ giải quyết việc làm, vay vốn sản xuất cho quân nhân dự bị tại chỗ để giữ nguồn.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của huyện ủy đối với việc quán triệt, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng lực lượng dự bị động viên; duy trì nghiêm kỷ luật Đảng, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khắc phục khâu yếu, mặt yếu tại các xã, thị trấn.
- Lãnh đạo bảo đảm đầy đủ, kịp thời ngân sách, cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội đối với quân nhân dự bị và gia đình họ.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Xây dựng quan niệm khoa học, luận giải làm rõ những vấn đề lý luận về chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên; chỉ rõ cấu trúc, các yếu tố quy định, biểu hiện và hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng lãnh đạo trong điều kiện cụ thể của một địa bàn chiến lược.
- Về thực tiễn:
- Khảo sát, đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng chất lượng lãnh đạo của các huyện ủy giai đoạn 2015-2021, làm rõ những thành tựu cùng những bất cập, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
- Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác lãnh đạo của cấp ủy cấp huyện.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kèm theo các biện pháp cụ thể, có tính khả thi cao nhằm giải quyết triệt để vấn đề di biến động nguồn, sắp xếp quân nhân dự bị và nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng dự bị động viên các huyện trên địa bàn Tây Nguyên đến năm 2030.
- Kiến nghị chính sách: Luận án kiến nghị Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với quân nhân dự bị khi tham gia huấn luyện; có chính sách ưu tiên đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ kinh tế hộ gia đình cho quân nhân xuất ngũ là người dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên để duy trì nguồn dự bị động viên ổn định tại chỗ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 53 huyện, không bao gồm các thị ủy và thành phố trực thuộc tỉnh của 5 tỉnh Tây Nguyên; do đó, các đặc điểm lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên tại khu vực đô thị tập trung chưa được khảo sát sâu.
- Mẫu khảo sát xã hội học bằng phiếu trưng cầu ý kiến được triển khai tập trung tại 10 huyện đại diện, thu thập ý kiến chủ yếu từ cán bộ cơ quan chuyên trách của huyện ủy và Ban Chỉ huy quân sự huyện, chưa mở rộng điều tra quy mô lớn tới từng quân nhân dự bị tại cơ sở thôn, buôn.
- Số liệu thực tế phản ánh chủ yếu từ năm 2015 đến năm 2021.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu chất lượng lãnh đạo của các thị ủy, thành ủy trên địa bàn Tây Nguyên để có bức tranh toàn diện cho toàn bộ hệ thống đơn vị hành chính cấp huyện của vùng.
- Nghiên cứu so sánh sự khác biệt trong phương thức lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên giữa địa bàn Tây Nguyên với các địa bàn chiến lược khác như Tây Bắc hoặc Tây Nam Bộ.
- Đi sâu nghiên cứu các giải pháp chuyển đổi số trong quản lý, theo dõi di biến động quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật dự bị trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và cơ quan chuyên môn:
- Thường trực huyện ủy, ban thường vụ huyện ủy và cán bộ lãnh đạo chủ chốt các huyện trên địa bàn Tây Nguyên: Cung cấp khung lý luận, tiêu chí tự đánh giá năng lực lãnh đạo, định hướng ban hành nghị quyết chuyên đề và quy trình chỉ đạo công tác quân sự, quốc phòng địa phương.
- Cơ quan quân sự cấp tỉnh, huyện (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Ban Chỉ huy quân sự huyện): Tham khảo các biện pháp phối hợp đăng ký, quản lý, phúc tra nguồn, phân bổ chỉ tiêu biên chế và hiệp đồng với đơn vị nhận nguồn.
- Học viện, nhà trường Quân đội (Học viện Chính trị, Học viện Lục quân, các trường quân sự quân khu) và hệ thống các trường chính trị tỉnh, trung tâm chính trị cấp huyện trên địa bàn Tây Nguyên: Sử dụng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề về Xây dựng Đảng, công tác đảng - công tác chính trị, quốc phòng toàn dân và nghệ thuật quân sự địa phương.
- Các cơ quan tham mưu chính sách của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ: Cung cấp cứ liệu thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành Luật Lực lượng dự bị động viên.
Câu hỏi thường gặp
-
Địa bàn khảo sát thực tế và khung thời gian nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào?
Luận án tiến hành nghiên cứu, khảo sát thực tế tại 10 huyện thuộc 5 tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng). Mẫu điều tra xã hội học bằng phiếu trưng cầu ý kiến tập trung vào đại diện cơ quan tham mưu huyện ủy và Ban Chỉ huy quân sự huyện. Tư liệu và số liệu phục vụ đánh giá thực trạng thu thập chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2021, các giải pháp đề xuất có giá trị áp dụng đến năm 2030.
-
Lực lượng dự bị động viên cấp huyện tại Tây Nguyên có những đặc điểm nổi bật nào?
Luận án chỉ ra 5 đặc điểm: (1) Được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của cấp ủy, quản lý của chính quyền và chỉ huy của cơ quan quân sự; (2) Quân nhân dự bị đa dạng thành phần xuất thân, cơ cấu dân tộc, tôn giáo và trình độ không đồng đều; (3) Phân bố lực lượng không đồng đều giữa các huyện và các tỉnh, mật độ dân cư chênh lệch lớn; (4) Phần lớn quân nhân dự bị sống ở nông thôn, làm nông nghiệp, tỷ lệ lao động tự do tạm trú đi làm ăn xa chiếm tỷ lệ lớn; (5) Phương tiện kỹ thuật dự bị được tăng cường nhưng chưa đồng bộ và còn thiếu so với yêu cầu.
-
Cơ cấu học vấn của lực lượng quân nhân dự bị trên địa bàn khảo sát được thống kê ra sao?
Theo số liệu thống kê tháng 12/2020 được công bố trong luận án, cơ cấu học vấn của quân nhân dự bị gồm: trình độ trung học cơ sở chiếm 11,52%; trình độ trung học phổ thông chiếm 56,34%; trình độ cao đẳng chiếm 16,68%; trình độ đại học chiếm 15,46%.
-
Các đơn vị dự bị động viên cấp huyện được phân loại thành những loại hình nào?
Quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật được biên chế thành 5 loại hình đơn vị dự bị động viên: đơn vị biên chế thiếu (TH); đơn vị biên chế khung thường trực (KTT); đơn vị không biên chế khung thường trực (KKTT); đơn vị chuyên môn cho thời chiến (CM); đơn vị xây dựng mới (XDM).
-
Hạn chế cốt lõi trong lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy được chỉ ra là gì?
Những hạn chế chính gồm: nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về nhiệm vụ xây dựng lực lượng dự bị động viên chưa tương xứng với yêu cầu pháp luật; chưa phát huy hết sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; sự phối hợp giữa cơ quan quân sự huyện và đơn vị nhận nguồn trong bổ nhiệm, sắp xếp quân nhân dự bị một số nơi chưa đúng quy định; việc theo dõi, quản lý di biến động của quân nhân dự bị đi làm ăn xa địa bàn chưa kịp thời, ảnh hưởng đến chất lượng và quân số tập trung huấn luyện.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Trung là công trình nghiên cứu toàn diện về chất lượng lãnh đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên của các huyện ủy trên địa bàn Tây Nguyên dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống hóa các đặc điểm tự nhiên, dân cư, quân sự đặc thù và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng lãnh đạo của cấp ủy huyện. Trên cơ sở khảo sát thực trạng giai đoạn 2015-2021, luận án chỉ rõ các ưu điểm, khuyết điểm, đúc kết 5 bài học kinh nghiệm và đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo quân sự, quốc phòng địa phương và là nguồn tài liệu học thuật giá trị cho các học viện, nhà trường quân đội và cơ sở đào tạo chính trị.