CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Kiểm soát nội bộ trong khu vực công và vai trò của hệ thống thông tin 1. Một số lý thuyết kiểm soát nội bộ Bất kỳ một tổ chức, đơn vị, cơ quan đều có sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung, quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành. Nếu trong tổ chức, đơn vị không có hệ thống kiểm tra toàn diện, thì việc kiểm tra được người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm thiệt hại, ảnh hưởng đến lợi ích chung của cả đơn vị là rất khó.
Người quản lý muốn thực hiện chức năng kiểm soát các mặt hoạt động thì công cụ chủ yếu là kiểm soát nội bộ (Internal Control System) ở đơn vị mình. Hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong quản lý. Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng như các quy định của luật pháp, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra. Nên KSNB được xem là công cụ hiệu quả nhất giúp kiểm soát các mặt hoạt động.
Kiểm soát nội bộ dựa trên việc phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ để định hướng kiểm soát, được thiết lập bởi những người lãnh đạo nhằm giúp họ trong việc kiểm soát đơn vị và đảm bảo tính bền vững của nó. Công cụ chủ yếu để thực hiện chức năng kiểm soát được chia các giai đoạn chủ yếu sau: 1. Từ năm 1992 trở về trước: Giai đoạn tiền COSO1 Trong các tài liệu về kiểm toán thì kiểm soát nội bộ được thể hiện ngay từ đầu thế kỷ 20. Cục dự trữ Liên bang Hoa kỳ (Federal Reserve Bulletin) đã đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ và chính thức công nhận vai trò của hệ thống kiểm 1 COSO: Committee of Sponsoring Organizations: Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 soát vào năm 1929, đây cũng là tiền thân của chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ.
Nhưng là một công cụ rất đơn giản, chỉ là biện pháp hỗ trợ trong các tài liệu kiểm toán như: Bảo vệ tiền không bị nhân viên gian lận, bảo vệ tài sản không bị thất thoát, ghi chép kế toán chính xác, tuân thủ các chính sách của nhà quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. Đến những năm đầu của thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ đưa ra một loạt các hướng dẫn, tiêu chuẩn và báo cáo KSNB trong những cuộc kiểm toán. Đến giữa thập niên của những năm 1970, kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ và vận dụng vào trong các cuộc kiểm toán. Tiếp theo là đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài vào năm 1977 được đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ.
Ủy ban chứng khoán Hoa kỳ (SEC: Securities and Exchange Commission) đã đưa ra các điều luật buộc những nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức, khái niệm về kiểm soát nội bộ lần đầu tiên xuất hiện. Đến năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA: American Institute of Certified Public Accountants) đã thành lập một Ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ đưa ra những hướng dẫn để thiết lập và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Với sự sụp đổ hàng loạt của các Công ty cổ phần ở Hoa Kỳ: ngân hàng Contiental Illinois National Ban & Trust Co năm 1984, Công ty dầu khí Texaco Inc năm 1987 và Tập đoàn Tài chính Finacial Corp năm 1988. Nên Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (National Commission on Finacial Reporting) đưa ra những vấn đề về KSNB, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường kiểm soát, những quy tắc về đạo đức, kiểm soát và làm rõ các chức năng của KSNB.
Năm 1992: Giai đoạn báo cáo COSO Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ (COSO: Committee of Sponsoring Organizations) là một Ủy ban gồm nhiều tổ chức nghề nghiệp đã hỗ trợ cho Ủy ban quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (Treadway Commision) như: AICPA, Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA: American Accounting Association), Hiệp hội kiểm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 toán viên nội bộ (IIA: Institule of Internal Auditor), Hiệp hội các nhà quản trị tài chính (FEI), và Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA: Institute of Management Accountants) đã đưa ra các nghiên cứu kiểm soát nội bộ: - Đi đến thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ nhằm phục vụ cho nhu cầu của nhiều đối tượng. - Đưa ra một hệ thống tiêu chuẩn đầy đủ để giúp các đơn vị đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ mà tìm ra biện pháp hữu hiệu. Đến giai đoạn báo cáo của COSO năm 1992, những công ty ở Hoa Kỳ phát triển nhanh và lớn mạnh về quy mô thì gian lận đã gây thiệt hại lớn đối với nền kinh tế, COSO đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết chuẩn cho kiểm soát nội bộ, cung cấp hệ thống lý luận đầy đủ nhất về kiểm soát nội bộ. Nhiều Ủy ban ra đời để tìm cách khắc phục, ngăn chặn những gian lận, hỗ trợ phát triển kinh tế ở nhiều lĩnh vực.
Báo cáo COSO 1992 đã nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro. Báo cáo Basle 1998 của Ủy ban Basle các ngân hàng Trung ương công bố về khuôn khổ kiểm soát nội bộ ngân hàng. Nhiều quốc gia trên thế giới lại có khuynh hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về kiểm soát nội bộ cho mình. Như là báo cáo COSO của Canada (1995) và báo cáo Turnbull 1999 của Anh, những báo cáo này tương đối giống nhau, không có khác biệt lớn so với COSO 1992.
Báo cáo COSO đã tạo một cơ sở lý thuyết cơ bản về kiểm soát nội bộ, mang tầm vĩ mô, đề cập đến báo cáo tài chính trong lĩnh vực hoạt động và đảm bảo tính tuân thủ, cụ thể: - Đưa ra cái nhìn tổng quát về kiểm soát nội bộ ở mức độ cao dành riêng cho nhà quản lý để quản lý điều hành các mặt hoạt động. - Đưa ra khuôn khổ chung, các tiêu chí đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, mô tả các bộ phận cấu thành của kiểm soát nội bộ. - Cung cấp thông tin cho bên ngoài về báo cáo thông tin tài chính. - Nêu lên các công cụ hướng dẫn, gợi ý giúp cho việc phân tích đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ.
Từ sau 1992: Giai đoạn hậu COSO LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Dựa trên những lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ của báo cáo COSO với một loạt các nghiên cứu và phát triển mở rộng thêm. - COBIT 1996 (Control Objective For Information and Related Technology) do ISACA đưa ra hệ thống kiểm soát nội bộ phát triển theo hướng công nghệ thông tin, tập trung nghiên cứu đẩy mạnh hệ thống kiểm soát trong môi trường máy tính (CIS), cụ thể kiểm soát trong các lĩnh vực: hoạch định, tổ chức mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát. - Các chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ: SAS 78 năm 1995 và SAS 94 năm 2001: chuyển sang sử dụng báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán độc lập về kiểm toán báo cáo tài chính và ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét kiểm soát nội bộ trong báo cáo tài chính. - Ủy ban Basel đưa ra báo cáo Basel 1998 về việc vận dụng kiểm soát nội bộ của COSO vào hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Họ không mở rộng thêm phạm vi ra các ngành khác mà chỉ đi sâu về lĩnh vực ngân hàng. - Hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp (ERM 2001: Enterprise Risk Management Framework): dành cho công tác quản trị và nêu lên các nhân tố cấu thành: Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Khái niệm về kiểm soát nội bộ: Năm 1992, INTOSAI cũng đã đưa ra định nghĩa về kiểm soát nội bộ: Kiểm soát nội bộ là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức, với những mục tiêu: thực hiện hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp; thực hiện đúng trách nhiệm; Tuân thủ theo luật pháp hiện hành, các nguyên tắc, quy định; Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất. Sự phát triển kiểm soát nội bộ trong khu vực công Nhiều công bố chính thức về kiểm soát nội bộ được áp dụng cho các cơ quan hành chính ở Mỹ và Canada: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 - GAO 1999 (United States General Accounting Office): Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán Nhà nước Hoa Kỳ đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức HCSN.
Với những yếu tố: các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. - INTOSAI (International Organization of Supreme Audit Institutions): Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao gồm 178 thành viên đã ban hành các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kế toán. Đến 1992 INTOSAI đã đưa ra hướng dẫn về chuẩn mực, đề cập đến việc phát triển các chuẩn mực, hỗ trợ thực hiện và đánh giá kiểm soát nội bộ. Năm 2001, INTOSAI 1992 đã được bổ sung thêm các chuẩn mực về kiểm soát nội bộ cho phù hợp với các đối tượng với sự phát triển, gần đây trong kiểm soát nội bộ đã tích hợp các lý luận chung về kiểm soát nội bộ của báo cáo COSO đã đưa ra định nghĩa: Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; sự tin cậy của báo cáo tài chính; sự tuân thủ về các luật lệ và quy định.