phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm sát điều tra án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại tỉnh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại tỉnh Bắc Ninh. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ 1.
Khái niệm về kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ 1. K ái niệm kiểm sát điều tra v án n s Để hiểu về khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự, cần xác định rõ một số vấn đề sau đây: *Kiểm sát oạt độn tư p áp Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất có quyền lập hiến, thực hiện quyền lập pháp và phân công quyền lực Nhà nước. Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên, Quốc hội chỉ trực tiếp thực hiện quyền giám sát của mình trong những phạm vi mà Quốc hội thấy cần thiết nhất như: hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Nghị quyết số 51/2001/NQ-QH ngày 25/12/2001 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung Điều 137 của Hiến pháp năm 1992 xác định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”[4, tr. Như vậy, từ năm 2002 tới nay, chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng của Viện kiểm sát nhân dân. Chức năng này luôn 8 hướng tới mục tiêu bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân và của các chủ thể trong xã hội được bảo đảm một cách tốt nhất, không bị vi phạm.
Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước trong tố tụng hình sự và chỉ do các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thẩm quyền thực hiện một số hoạt động tư pháp tiến hành. Hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra là hoạt động của cơ quan điều tra, của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó Kiểm sát các hoạt động tư pháp là các hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan tổ chức, cá nhân trong quá trình tiến hành các hoạt động tư pháp. Hoạt động này chủ yếu giám sát, kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát trong quá trình điều tra vụ án hình sự.
- Mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp là phát hiện kịp thời để loại trừ vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. - Đối tượngkiểm sát hoạt động tư pháp chủ yếu tập trung vào hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thẩm quyền thực hiện một số hoạt động tư pháp theo qui định của pháp luật tố tụng. - Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án. - Nội dungkiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra và giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện 9 một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự và các hoạt động tư pháp khác theo qui định của pháp luật.
* Điều tra v án n s Theo từ điển Luật học: Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Như vây, điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự (TTHS) quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Hoạt động điều tra là sự kết hợp của các thao tác có tính chất tìm kiếm, phát hiện, thu giữ và củng cố một cách có hiệu quả các thông tin có giá trị chứng minh trong các dấu vết đó theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhằm mục đích thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ chứng minh sự kiện phạm tội. Như vậy, điều tra vụ án hình sự được hiểu là việc cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra sử dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc truy tốt của Viện kiểm sát nhân dân và xét xử của Tòa án [21,tr.
Thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể để có thể đưa ra các kiến nghị, biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan. Trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự được thực hiện thông qua công tác kiểm sát điều tra. Hoạt động này có nội dung chủ yếu giám sát, kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát trong quá trình điều tra vụ án nhằm bảo đảm cho việc điều tra được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật. 10 Đối tượng của kiểm sát điều tra là hành vi xử sự của các cơ quan điều tra, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan trực tiếp đến quá trình điều tra vụ án hình sự.
Phạm vi của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự gắn liền với phạm vi của quyền công tố. Khi quyền công tố được thực hiện thì mặc nhiên phát sinh hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Do đó, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng cần được tiến hành ngay từ khi hoạt động điều tra được bắt đầu, để bảo đảm các hành vi tố tụng của các chủ thể nói trên tuân thủ pháp luật. Hoạt động kiểm sát điều tra sẽ chấm dứt khi kết thúc các hoạt động điều tra và mục đích của hoạt động điều tra đã đạt được.
Để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn điều tra thì Viện kiểm sát phải tiến hành kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật đối với tất cả các hoạt động của các đối tượng bị kiểm sát. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, về mặt nguyên tắc phạm vi của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra đến khi kết thúc việc điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật. Từ những vấn đề nêu trên, có thể rút ra khái niệm về kiểm sát điều tra án hình sự như sau: Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân, có nội dung là giám sát mọi hoạt động của cơ quan điều tra, của các cơ quan khác, của các tổ chức xã hội và những cá nhân có liên quan trực tiếp đến quá trình điều tra vụ án hình sự, nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật. Một s vấn đề về tội vi p ạm quy địn về điều k iển p ươn tiện iao t ôn đườn bộ * Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 quy định Điều 202 về “tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” như sau: “1.
Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định; b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác; c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” [25].