Chương 1: Hoạt động thông tìn - thư viện với việc nâng cao chất lượng đào tạo tại Học viện Âm nhạc Huế Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin - thư viện tại Học viện Âm nhạc Huế Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin - thư. viện tại Học viện Âm nhạc Huế. Chuong 1 HOAT DONG THONG TIN - THU VIEN VOI VIEC NANG CAO CHAT LUQNG DAO TAO TAI HQC VIEN AM NHAC HUE 1. 'hững vấn đề chung về hoạt động thông tin - thư viện 1.
Khái niệm về hoạt động thông tin - thư viện Để có được một khái niệm hoàn chỉnh về hoạt động thông tin - thư viện, trước hết chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm như: Hoạt động; Hoạt động thông tin; Hoạt động thư viện. * Hoạt động Theo Từ điển Tiếng Việt “hoạt động” được định nghĩa như sau: “Hoạt động là làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [49, tr. 827] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 2 “hoạt động” được hiểu như sau: Hoạt động là một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới xung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình. Trong mối quan hệ ấy, chủ thể hoạt động là con người, khách thể của hoạt động là tất cả những gì mà hoạt động tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể.
Mục đích trên đây thể hiện trên nhiều lĩnh vực và trên nhiều dạng hoạt động: kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, tư tưởng, lý luận, văn hóa, tâm lý,vv. Nhưng mục đích cơ bản, có ý nghĩa quyết định là thực tiền xã hội. Hoạt động thường chia thành hai loại: Hoạt động hướng ngoại nhằm cải tạo thiên nhiên và xã hội; Hoạt động hướng nội nhằm cải tạo bản thân con người. Hai loại hoạt động ấy gắn liền mật thiết với nhau vì con người chỉ có thể cải tạo mình trong quá trình cải tạo thiên nhiên và xã hội.
Hoạt động bao giờ cũng mang tính lịch sử qua các thời đại khác nhau.341] Theo từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học do tác giả Hoàng Phê chủ biên, khái niệm “hoạt động” được hiểu là tiến hành các việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đạt được một mục đích nhất định [25, tr.341] Từ định nghĩa trên, ta có thê hiểu “hoạt động” là tổng hợp các hoạt động của chủ thể (con người) tác động vào một đối tượng nhất định, nhằm một mục đích nhất định, kết quả có ý nghĩa xã hội nhất định. * Hoạt động thông tin Hoạt động thông tin là một quá trình sáng tạo, thu thập, xử lý, chỉnh sửa, lưu trữ và phô biến, sử dụng thông tin của con người, với mục đích để thỏa mãn nhu cầu tin cũng như giải quyết các vấn đề trong cuộc sống mà con người gặp phải * Hoạt động thư viện Hoạt động thư viện là quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liện đến với đông đảo đối tượng bạn đọc, nhằm góp phần nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài, phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học và công, nghệ, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tir cdc khái niệm trên, chúng ta có thể thấy, “hoqr động théng tin - thu viện” là quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ, bảo quản và phổ biến thông tin đến người dùng tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người ding tin. Các yếu tố ảnh hướng đến hoạt động thông tin - thư viện Hoạt động TT-TV chịu tác động của nhiều yếu tổ cấu thành, các yếu tố này ảnh hưởng lớn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của thư viện.
Theo tác giả, có hai nhóm yếu tố chính, gồm: yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Trong yếu tố khách quan, gồm các yếu tố như: cơ chế chính sách, vai trò của thông tin và công nghệ thông tin, người dùng tin, môi trường kinh tế, chính trị và xã hội Yếu tố chủ quan, gồm các yếu tố như: Nguồn lực thông tin, cán bộ thư viện, cơ sở vật chất - kỹ thuật, các công cụ xử lý thông tin. Các yếu tố khách quan Cơ chế chính sách Trong bất kỳ hoạt động nào của đời sống xã hội nói chung, hoạt động thông tin - thư viện nói riêng. Cơ chế chính sách có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngành thư viện, cũng như hoạt động thư viện.
Từ cơ chế chính sách, các cơ quan thông tin - thư viện sẽ điều chỉnh hoạt động của mình sao cho phù hợp và đúng quy định. Muốn cho hoạt động của thư viện đạt được hiệu quả cao, trước tiên các cơ quan TTTV cẩn nghiên cứu, nắm vững các cơ chế chính sách có liên quan đến ngành, đến cơ quan, đơn vị mình Trong xã hội thông tin như hiện nay, dé tổ chức tốt các hoạt động, nhằm phụ vụ tốt nhất nhu cầu tin của NDT. Cơ quan TTTV cần phải nắm vững hệ thống các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến hoạt động TTTV. Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được quy định trong hệ thống các văn bản pháp quy của các bộ/ngành, trong đó quy định rõ môi trường pháp lý, tư cách pháp nhân, quy mô tổ chức, quy chế thành lập, giải thể, chiến lược phát triển của sự nghiệp thư viện, về nguồn nhân lực, chính sách đảm bảo tài chính,.
Trên cơ sở nắm vững cơ chế chính sách, các cơ quan TTTV tiến hành nghiên cứu các giải pháp phù hợp và khả thi nhất theo điều kiện hiện có của đơn vị để kiện toàn cơ cấu tổ chức của hệ thống thông tin nhằm kiểm soát một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực thông tin tiến tới hoàn thiện tổ chức hoạt động TTTV của cơ quan, đơn vị mình. Vai trò của thông tìn và công nghệ thông tìm Sự phát triển nhanh chóng của Công nghệ thông tin trong tắt cả các lĩnh vực có liên quan đến thông tin là một đặc trưng trong những năm gần đây. Không chỉ hình thức và loại hình sản phẩm thông tin thay đổi mà còn thay đổi cả khái niệm về vai trò và chức năng của nhiều cơ quan thông tin - thư viện (TT-TV). Theo tác giả East Anglia Nowich: “rong xã hội thông tin các thư viện sẽ trở thành trung tâm chuyển giao trí thức với các biện pháp và phương tiện của công nghệ thông tin” Đồng thời nhu cầu nắm bắt thông tin day du, nhanh chóng và chính xác đòi hỏi hoạt động thông tin phát triển lên tầm cao mới.
Van đề đặt ra đối với các nhà thông tin và thư viện là làm thế nào để việc thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin một cách tốt nhất. Hoạt động thông tin không chỉ dựa vào các hình thức cũ mà phải áp dụng các thành tựu của công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan thông tin - thư viện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan TTTV, đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu tin của NDT một cách nhanh chóng, kịp thời. Sự ra đời của một số sản phẩm và dịch vụ thông tin mới đã tác động và làm thay đổi thói quen, tâm lý, nhu cầu sử dụng, khai thác thông tin của NDT.
Đồng thời, nó cũng góp phần tác động đến hoạt động thông tin - thư viện (TT - TV) của cơ quan TTTV Ứng dụng tin học trong công tác thông tin - thư viện thường tập trung vào việc lưu trữ, tìm kiếm và tạo ra các sản phẩm thông tin, tổ chức các dịch vụ tìm kiếm và phổ biến thông tin. Đặc điểm của các hoạt động này là thường. xuyên phải quản lý một khối lượng tài liệu lớn và được khai thác lặp đi lặp lại nhiều lần. Do vậy, tin học hóa hoạt động thông tin - thư viện là xu thế phát triển tất yếu của các cơ quan thông tin - thư viện hiện nay.
* Người dùng tin NDT là con người cụ thể trong một xã hội cụ thể (đa dạng và phức tạp), có nhu cầu tin và sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu tin của mình. Người dùng tin (ban doc, đọc giả, người dùng.) là đối tượng chính mà bắt kỳ thư viện và cơ quan thông tin nào cũng hướng đến, là mục tiêu, động lực hoạt động của thư viện. Phục vụ bạn đọc là mục tiêu cuối cùng của thư viện, càng phục vụ được nhiều người dùng tin, thì vai trò của thư viện càng được phát huy. NDT là người sử dụng thư viện, các sản phẩm và dịch vụ thư viện, đồng, thời cũng là những người tạo ra các thông tin mới cho thư viện.
NDT là một trong các yếu tố yếu tố trung tâm mà các yếu tố khác hướng đến. Chính vì tầm quan trọng đó, các thư viện và cơ quan thông tin nên tập trung vào việc nghiên cứu nhu cầu tin của NDT một cách thường xuyên, kịp thời, nhằm thỏa mãn tối đa, đầy đủ, kịp thời, nhanh chóng, và chính xác đúng thời điểm, đúng đối tượng NDT. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của thư viện luôn tồn tại mâu thuẫn giữa nhu cầu tin của NDT và khả năng đáp ứng của thư viện. Giải quyết được vấn đề này sẽ thúc đây hoạt động thư viện phát triển.
* Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội Bắt kỳ một cơ quan, đơn vị nói chung, cũng như một cơ quan thông tin, thư viện (CQTT/TV) nói riêng, bao giờ cũng chịu ảnh hưởng từ môi trường kinh tế, chính trị và xã hội. Lợi ích của CQTT/TV và NDT chỉ được đảm bảo một khi CQTT/TV hoạt động theo đúng môi trường mà nó chịu tác động, nhằm đảm bảo phát triển đúng định hướng, chiến lược của đơn vị. Các yếu tổ chủ quan * Nguồn lực thông tin Cùng với sự ra đời của “nền kinh tế thông tin” thì nguồn lực thông tin đang dan trở nên rất phổ biến trong mọi cơ quan và tô chức. Nó bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản số, hình ảnh, hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và có giá trị cho người sử dụng.
Vậy, nguồn lực thông tin có vai trò rất quan trọng trong mọi tô chức, mọi quốc gia trong việc phát triển kinh tế và cũng là lý do để các CQTT/TV xây dựng một nguồn thông tin phong phú, đa dạng.