Đặt vấn đề Rau địa phương (dựa trên quan niệm của người dân tộc bản địa tại 2 vùng Sa Pa - Lào Cai và Mai Sơn – Sơn La) là các cây trồng được sử dụng với mục đích sử dụng một phần làm rau ăn và đã được trồng nhiều năm tại địa phương (trên 15 năm), với giống có khả năng tự để hoặc có thể mua tại các chợ địa phương và không được sản xuất bởi các công ty giống, đơn vị cung cấp giống chính thống (informal seeds). Rau địa phương được coi là sản phẩm đặc trưng cho tập quán canh tác nông nghiệp và văn hóa của nhóm dân tộc bởi những cây trồng này là sản phẩm của nhu cầu, thị hiếu ẩm thực của người dân địa phương. Các giống rau địa phương phù hợp với điều kiện ngoại cảnh bản địa do đã được chọn lọc bởi người nông dân qua một thời gian dài. Ngoài sử dụng làm nguồn thực phẩm quan trọng trong bữa ăn hàng ngày, bổ sung dinh dưỡng, các giống rau địa phương cũng mang lại nguồn thu nhập cho nông hộ, góp phần cải thiện đời sống cho người nông dân.
Tại huyện Mai Sơn (tỉnh Sơn La), hiện nay có nhóm rau địa phương quý như các giống Cải (cải xanh, cải bẹ, cải mèo, cải củ, cải bắp, su hào, súp lơ…), giống bí xanh, bí đỏ, cà chua và rau gia vị như hành, tỏi, tía tô, gừng, rau diếp, rau mùi,… Các giống rau này là nguồn thực phẩm bổ sung dinh dưỡng quan trọng góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng vốn thiếu đa dạng của người nông dân dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, gần đây do nhiều yếu tố tác động rau địa phương đang đối mặt với nguy cơ bị thất thoát và thay thế bởi giống mới thông qua sự thay đổi trong lựa chọn vật liệu giống của nông hộ. Một số nguyên nhân chính (kết quả điều tra nông hộ năm 2019) như sau: 1) Do tác động của thị trường nông nghiệp đầu vào và đầu ra (nhiều giống mới được thương mại, thị hiếu của người tiêu dùng); 2) Chất lượng hạt/cây con/vật liệu giống địa phương giảm làm ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu của nông hộ; 3) Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp nên nông hộ ưu 1 tiên trồng lúa và ngô nhằm đảm bảo an ninh lương thực hoặc cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn; 4) Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, hạn hán kéo dài khiến việc trồng trọt gặp nhiều khó khăn do thiếu nước tưới; 5) Dịch bệnh phát triển mạnh và thiếu biện pháp phòng trừ đặc trị do việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật. Do đó việc duy trì các giống rau địa phương gặp nhiều khó khăn.
Hạt giống chiếm một giai đoạn quan trọng trong vòng đời của cây trồng. Sự thành công trong sản xuất cây trồng chủ yếu được xác định bởi các đặc điểm sinh lý và sinh hóa của hạt/vật liệu giống để duy trì cây trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng và phát triển cây non (Bewley & Black, 1994). Hiện tại, nguồn giống địa phương đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của nông dân, đặc biệt ở các vùng sâu vùng xa. Đối với người dân tộc thiểu số, hạt/vật liệu giống đang được sử dụng chủ yếu do nông hộ tự sản xuất và lưu trữ tại nhà.
Cũng có nhiều giống cây trồng, người dân lựa chọn mua giống ban đầu bên ngoài nông hộ (như mua tại các của hàng vật tư giống, chợ địa phương) hoặc xin/trao đổi với bạn bè, hàng xóm. Nhưng từ các vụ sau, nông hộ thường lựa chọn tự lưu giữ lại giống dựa trên lựa chọn tích cực như: cây khỏe đẹp, không bị sâu bệnh thì sẽ được chọn để giữ giống. Hạt/vật liệu giống bảo quản chủ yếu là được phơi khô sau đó treo trên gác bếp hoặc đựng trong lọ nhựa hoặc thủy tinh. Do điều kiện nông hộ còn hạn chế về cơ sở vật chất, đặ biệt là chế độ làm lạnh cũng như quản lý độ ẩm không khí, đây là hai yếu tố đóng vai trò quyết định trong việc duy trì chất lượng giống trong quá trình bảo quản, lưu trữ.
Vì vậy, người dân gặp phải và phàn nàn giống thương bị mọt, ẩm mốc, tỷ lê nảy mầm giảm, cây con sinh trưởng kém. Ngoài ra, các nông hộ chủ yếu giữ giống cho từng vụ (vụ trước dùng cho vụ sau) nên lượng giống hạn chế không đảm bảo nguồn giống cung cấp ổn định khi mất mùa hay thiên tai xảy ra. Cải H’Mông - còn gọi là cải Mèo (Brassica juncae L.) là một trong số các loại rau xanh trồng phổ biến tại vùng miền núi phía Bắc. Đây là loại rau vừa có 2 giá trị dinh dưỡng cao, vừa mang lại thu nhập cho người dân bản địa.
Phần lớn hạt giống của loại rau này được các hộ gia đình tự để từ đợt thu hoạch vụ trước và ít được thay thế bởi giống mới bên ngoài do thói quen và sở thích về khẩu vị của hộ. Qua điều tra sơ bộ tại một số cộng đồng người dân tộc thiểu số tại Mai Sơn - Sơn La, người dân khi lưu trữ giống tại nông hộ với loại cây này còn gặp nhiều khó khăn: hạt bị mọt ăn, ẩm và mốc, tỷ lệ nảy mầm giảm chỉ sau một vụ bảo quản, cây con ra rễ chậm và sinh trưởng phát triển kém. Vì vậy, việc nghiên cứu một số các biện pháp kĩ thuật nhằm nâng cao chất lượng hạt giống trước khi bảo quản là rất cần thiết. Từ đó, chúng tôi xây dựng đề tài “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và nâng cao chất lượng hạt giống rau cải H'Mông” cùng phối kết hợp với các chuyên gia về giống rau của Viện nghiên cứu Rau quả trong năm 2020-2021.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá đặc điểm nông, sinh học của các mẫu giống cải H’Mông thu thập tại nông hộ và chợ địa phương thuộc thị xã Sa Pa – tỉnh Lào Cai và huyện Mai Sơn – tỉnh Sơn La để tìm ra những mẫu giống sinh trưởng phát triển tốt, cho chất lượng rau phù hợp khi trồng tại vùng đồng bằng. Đồng thời nâng cao chất lượng hạt giống cải H’Mông thông qua xác định thời gian thu quả phù hợp. Yêu cầu Đánh giá được đặc điểm nông, sinh học và sự đa dạng về hình thái của các mẫu giống cải H’ Mông thu thập tại nông hộ và chợ địa phương thuộc thị xã Sa Pa – tỉnh Lào Cai và huyện Mai Sơn – tỉnh Sơn La.
Nâng cao chất lượng hạt giống của các mẫu giống cải tiềm năng thông qua xác định thời gian thu quả phù hợp và kiểm nghiệm lại thông qua xử lý hạt già hóa nhân tạo. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu chung về nhóm rau cải xanh ăn lá (Brassica juncea L.1 Phân bố của nhóm rau cải xanh ăn lá Rau cải xanh ăn lá được sử dụng rộng rãi và chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất, tiêu thụ và thực phẩm hàng ngày nhờ chủng loại phong phú. Họ thập tự (Brassicacea) có nguồn gốc từ khu vực có khí hậu ôn đới, có sự đa dạng về loài lớn nhất tại khu vực Địa Trung Hải. Tuy các loài ưa khí hậu mát lạnh, nhưng cũng có nhiều giống chịu nhiệt tốt.
Ở Việt Nam, rau cải ăn lá có thể trồng trên nhiều vùng khác nhau và trong mỗi vùng có thể trồng được nhiều vụ khác nhau. Ngày nay, rau cải xanh ăn lá được trồng nhiều ở 1 số quốc gia và khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Canada, Pakistan, Nga và châu Âu. Ở Việt Nam, cải xanh ăn lá được trồng trên cả nước, chủ yếu được sử dụng để ăn tươi. Cải xanh ăn lá có thể trồng quanh năm, trừ những tháng quá nóng và mưa nhiều như tháng 5, 6, 7 dương lịch.
Ở miền Bắc nước ta có hai vụ chính: Vụ Xuân - Hè (tháng 2 - 6 dương lịch), thường sau gieo 30 -35 ngày thì bắt đầu thu hoạch; Vụ Thu - Đông (tháng 8 - 11), gieo 20 - 25 ngày thì nhổ cấy, 30 - 35 ngày sau cấy là ăn được.2 Đặc điểm thực vật học cây rau cải xanh ăn lá Cây dạng thân thảo hàng năm, cao 40 - 60 cm hay hơn, rễ trụ ít phân nhánh. Lá mọc từ gốc, hình trái xoan, tù, có cuống lá có cánh với 1 - 2 cặp tai lá; phiến có giống dài tới 1m, rộng 60cm, hơi hay có răng không đều; các lá phía trên ở thân càng lên cao càng tiêu giảm hơn, hình dải - ngọn giáo dài 5cm, rộng 5 -10mm. Hoa có màu vàng nhạt, chùm hoa khá lớn, cao 1,5cm, xếp thành chùm dạng ngù. Quả cải dài khoảng 35mm, tận cùng kết thúc bằng một mũi nhọn, dài 4 - 5mm, mở thành các van lồi, có đường gân giữa rõ.
Hạt hình cầu, có mạng màu nâu hoặc đen, dài 2mm.1 Đặc điểm hình thái các bộ phận của cây rau cải xanh ăn lá 2.3 Cơ cấu giống cải thuộc họ Cải Cải xanh ăn lá (Brassica juncea L.) thuộc chi: Brassica, họ thập tự Brassicaceae, bộ màn màn Capparales. Chi Brassica là một thành viên quan trọng trong họ thập tự, nó bao gồm nhiều loài có giá trị kinh tế, có thể được sử dụng để ăn củ, thân, lá, hoa, hạt được dùng để làm gia vị. là loài được sử dụng chủ yếu để ăn lá và hạt (Doddabhimappa et al. Họ thập tự hay họ cải là một họ lớn với hơn 350 chi và khoảng 3000 loài phân bố chủ yếu ở Bắc bán cầu, đặc biệt ở vùng Địa Trung Hải và Trung Á.
Ở nước ta, họ này có 6 chi với khoảng 20 loài (Hoàng Thị Sản, 2007). Căn cứ vào đặc điểm của cuống lá, phiến lá (kích thước, hình dạng, màu sắc.các giống rau cải của nước ta hiện nay được phân thành 3 nhóm: - Nhóm cải bẹ (Brassica campesris L.2), hay còn gọi là nhóm cải dưa (chủ yếu để muối dưa). Nhóm cải này ưa nhiệt độ thấp, chịu lạnh. Nhiệt độ thích hợp 15 - 22°C do đó trồng thích hợp trong vụ Đông Xuân.
Đặc điểm 5 nhóm cải bẹ là có bẹ lá to, dày, giòn, lá lớn. Năng suất của 1 cây có thể 2 - 4 kg, thời gian sinh trưởng từ lúc gieo đến thu hoạch từ 120 - 160 ngày. - Nhóm cải xanh/cải cay/cải canh (Brassica juncea L.2), nhóm cải xanh có khả năng chịu được nóng và mưa to, nhóm cải này có khả năng thích nghi rộng, thường được trồng quanh năm đặc biệt trong vụ Xuân Hè và vụ Thu Đông. Cải xanh có cuống hơi tròn, nhỏ, ngắn.
Phiến lá nhỏ và hẹp, bản lá mỏng, cây thấp, nhỏ, lá có màu xanh vàng đến xanh đậm ăn có vị cay nên gọi là cải cay, dễ để giống.