CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Khái quát chung về công trình thủy lợi Nước là tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có vai trò quan trọng không thể thiếu đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật trên trái đất. Nước đóng vai trò đặc biệt quan trong đối với nền kinh tế và sự sống trên tất cả các quốc gia. Ước tính có khoảng 1.5tỷ km3 nước trên hành tinh ( 90% là nước ở các đại dương và 10% là nước ở các lục địa ). Tuy nhiên, lượng nước thích hợp cho cuộc sống của con người chỉ 20% nước ở trong các lục địa.Vậy nên, nguồn nước có thể dành cho con người sử dụng là rất ít và có hạn.
Nước có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong nền kinh tế quốc dân: cung cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, như phát điện, giao thông vận tải, phòng chống lụt bão, nuôi trồng thủy sản, hoặc còn được sử dụng trong trang trí, thăn quan và du lịch… Ngược lại, nó cũng gây những tác hại cho cong người như: lụt lội, xói lở bờ, thiên tai, bão lũ. Trên trái đất nguồn nước tự nhiên được phân bố không đều theo không gian và thời gian giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Lượng nước tập trung chủ yếu vào mùa lũ, cạn kiệt vào mùa khô. Vì vậy cần phải xây dựng các công trình thủy lợi để phân bố lại nguồn nước cho hợp lý, tiện cho việc lên kế hoạch khai thác, sử dụng nguồn nước.
CTTL cung cấp, điều tiết nước nhằm sử dụng nguồn tài nguyên nước và chống lại những tác hại từ nó gây ra. Công trình thủy lợi là các công trình xây dựng nhằm mục đích sử dụng một cách hợp lý nguồn nước trong tự nhiên, nhiệm vụ của nó chủ yếu là làm thay đổi, cải tạo hay biến đổi trạng thái tự nhiên vốn có của dòng chảy để sử dụng hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm nguồn nước và bảo vệ môi trường xung quanh, môi trường sống của con người, ngoài ra CTTL còn giúp tránh khỏi tác hại của dòng nước. Các CTTL có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau về quy mô, tính chất, trình độ kỹ thuật, mục đích xây dựng. Dựa trên cơ sở tính chất của công trình đó tác dụng lên dòng chảy, sẽ có các loại công trình là: Công trình dâng nước, công trình điều chỉnh, công trình dẫn nước, các công trình chuyên môn.
Trong đó, các công trình dâng 4 nước là công trình ngăn sông tạo thành hồ chứa. phổ biến nhất là các loại đập. Công trình điều chỉnh là các công trình xây dựng để điều chỉnh, thay đổi hướng của dòng chảy theo yêu cầu thiết kế, để khống chế xói, lở dòng sông, có thể làm thay đổi trạng thái dòng chảy, tránh các tác hại của dòng chảy. Các công trình điều chỉnh có thể kể đến như: đê, đập, tường, kè.
Công trình dẫn nước như: kênh, mương, cầu, máng, đường ống làm bằng các loại vật liệu khác nhau. Mục đích của công trình dẫn nước là để đưa nước tới các tua bin, dẫn nước tới đồng ruộng, cung cấp nước tưới phục vụ nông nghiệp, cấp nước cho thành phố. Các công trình chuyên môn được hiểu là các công trình phục vụ cho mục đích lợi ích kinh tế thủy lợi. Các công trình như: Nhà máy thủy điện, công trình giao thông thủy, công trình cấp và tháo nước.1 Toàn cảnh đập thủy điện Hòa Bình – CTTL lớn của Việt Nam Chất lượng công trình được hiểu là những yêu cầu về an toàn, bền vững, quy mô, tính chất, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với qui chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật liên quan và hợp đồng kinh tế, hồ sơ thiết kế.
Chất lượng công trình vừa là sự đảm bảo về an toàn về 5 mặt kỹ thuật, quy mô, cấp độ công trình vừa phải đảm bảo các yêu cầu về an toàn sử dụng về cả yếu tố kinh tế và xã hội. Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của Nghị định 46/2015/NĐ-CP và pháp luật khác có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo yêu cầu về chất lượng và an toàn công trình [1]. Đối với CTTL công tác QLCL đảm bảo chất lượng công trình xuyên suốt quá trình xây dựng các giai đoạn từ khảo sát, thiết kế đến thi công và khai thác công trình. QLCL, giám sát công trình là phải kiểm soát, quản lý được các nhân tố ảnh hưởng tới công trình nói chung và CTTL nói riêng, bao gồm: con người, vật tư, biện pháp kỹ thuật, yêu cầu thiết kế và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến.
Để giám sát, quản lý chất lượng, công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công cần phải nâng cao chất lượng công tác quản lý chất lượng, giám sát thi công xây dựng công trình về các phương diện vật liệu, tổ chức thi công, lắp đặt thiết bị công trình và an toàn lao động.2 Đánh giá chung về công tác giám sát xây dựng công trình thủy lợi ở Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, thế nên đất nước ta có lượng mưa ( lượng mưa bình quân của cả nước đạt gần 2000 mm ) và dòng chảy khá dồi dào, nguồn nước trong tự nhiên phong phú. Mùa mưa và mùa khô phân biệt rõ rệt, thời gian mùa mưa bắt đầu từ khoảng tháng 5 đến khoảng hết tháng 11. Trong thời gian mùa mưa lượng nước tự nhiên ở các sông, suối, ao, hồ tăng lên rất nhiều có thể gây lụt lội, còn khi đến mùa khô thì thiếu nước dẫn ảnh hưởng đến sinh hoạt, xuất công nghiệp, nông nghiệp… Việt Nam có mật độ sông ngòi lớn, phân bố mưa và dòng chảy không đều. Mùa mưa lại trùng với mùa bão nên luôn phải đối mặt nhiều thiên tai, lũ lụt.
Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia phát triển nông nghiệp lúa nước. Để đảm bảo lương thực trong điều kiện thiên tai khốc liệt đối với một quốc gia đông dân như Việt Nam, từ xa xưa, tổ tiên người Việt đã sớm xây dựng các công trình thủy lợi nhằm khai thác, điều tiết nguồn 6 nước, dẫn nước, sử dụng nước từ những công trình nhỏ, thô sơ đến những công trình lớn. Đến nay, các công trình thủy lợi ngày càng được xây dựng hiện đại hơn, với số lượng công trình ngày càng nhiều, quy mô cũng lớn hơn trước nhằm đảm bảo tốt nhất cho việc sử dụng nguồn tài nguyên nước, phục vụ tưới tiêu góp phần nâng cao sản lượng nông nghiệp cũng như giảm thiểu được thiệt hại từ thiên tai, lũ lụt. Để đảm bảo cho việc xây dựng các công trình thủy lợi hiện đại, quy mô tầm cỡ, đúng với yêu cầu thiết kế, kỹ thuật, đạt hiệu quả cao trong khai thác và sử dụng, sửa chữa duy trì trạng thái làm việc tốt nhất của các công trình thủy lợi đó thì công việc QLCL nói chung và công tác giám sát xây dựng công trình thủy lợi nói riêng là đặc biệt quan trọng.
Công tác giám sát xây dựng công trình thủy lợi gồm các công trình xây dựng mới và các công trình sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn cần phải đảm bảo được về các phương diện như: giám sát vật liệu xây dựng, giám sát thi công xây lắp, giám sát lắp đặt các thiết bị công trình và giám sát an toàn lao động.1 Công tác giám sát vật liệu xây dựng Vật liệu xây dựng là thành phần quan trọng xây dựng nên công trình, tạo nên chất lượng công trình xây dựng. VLXD rất đa dạng về chủng loại, nguồn gốc xuất xứ. Để đảm bảo được chất lượng công trình xây dựng cần phải kiểm tra, giám sát chúng trong quá trình vận chuyển, bảo quản, đưa vào sử dụng. Vật liệu xây dựng đóng vai trò không thể thiếu trong xây dựng công trình, hầu hết các công trình xây dựng đều cần đến VLXD.
Chi phí về vật liệu chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá thành xây dựng một công trình hoàn chỉnh. Chất lượng của vật liệu dùng để xây dựng công trình có sự ảnh hưởng lớn đến chất lượng của công trình có tốt hay không, vật liệu sử dựng cho công trình càng tốt thì công trình càng bền vững, đảm khả năng chịu lực trong thiết kế công trình. VLXD còn vai quyết định đến giá thành của công trình, thế nên việc cân nhắc sử dụng vật liệu, không nên sử dụng vật liệu quá đắt tiền làm tăng giá thành của toàn bộ công trình, nhưng cũng không vì thế mà sử dụng những vật liệu rẻ tiền ảnh hưởng đến chất lượng của công trình [2]. 7 Việc giám sát vật liệu trong thi công là một trong những công việc chính của công tác quản lý chất lượng xây dựng.
Việc quản lý chất lượng xây dựng công trình nói chung và việc giám sát VLXD nói riêng phải tuân thủ theo những qui định của Nhà nước [2]. Trước đây nhiều sản phẩm vật liệu dùng trong thi công xây dựng các công trình tại Việt Nam như xi măng, sắt thép, kính xây dựng, gạch ốp lát … chủ yếu phải nhập khẩu thì những năm gần đây, ngành VLXD đã đạt được nhiều thành tựu khi chủng loại mặt hàng vật liệu ngày càng đa dạng, được mở rộng, chất lượng của VLXD nâng cao đáp ứng được nhu cầu thi công xây dựng các công trình trong nước cũng như xuất khẩu. Một số doanh nghiệp sản xuất VLXD có trình độ kỹ thuật cao, công nghệ, thiết bị và quản lý tương đối tiên tiến, tạo ra những sản phẩm đi đầu trong xu thế xây dựng hiện nay, các sản phẩm VLXD ngoài đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật thi công, còn đảm bảo tính thẩm mỹ, kinh tế, thân thiện với môi trường. Đã có những thương hiệu sản xuất VLXD có uy tín trong nước và quốc tế.2 Một số loại vật liệu xây dựng phổ biến tại Việt Nam 8 Mặc dù ngành VLXD đã có những bước phát triển rất lớn, tuy nhiên vẫn còn đó những thực trạng đáng lo ngại về chất lượng, ngành hàng đáp ứng yêu cầu thi công xây dựng.
Cụ thể, việc đầu tư trong ngành VLXD trong thời gian qua không thực hiện theo quy hoạch, chủ yếu tự phát, phong trào, dẫn đến lúc được lúc mất, khủng hoảng thừa, thị trường VLXD không ổn định ảnh hưởng đến triển khai kế hoạch thi công xây dựng.