Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ người hoạt đông không chuyên trách cấp xã 1. Lý thuyết chung về chất lượng đội ngũ người hoạt đông không chuyên trách cấp xã 1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng nhiệm vụ và vai trò của người hoạt động không chuyên trách cấp xã * Khái niệm những người hoạt động không chuyên trách cấp xã: Các thuật ngữ “cán bộ cấp xã”, “công chức cấp xã” đã được định nghĩa thống nhất trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 [20], nhưng chưa có văn bản nào giải thích rõ ràng, đầy đủ về thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách cấp xã”.
Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã không dùng thuật ngữ “cán bộ không chuyên trách” mà thay bằng cụm từ “những người hoạt động không chuyên trách”. Hiện nay, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan quy định rõ ràng, cụ thể đối tượng cán bộ xã và công chức xã; nhưng lại không quy định thế nào là “những người hoạt động không chuyên trách xã”; vì vậy, để nêu lên khái niệm thế nào là những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là điều không hề dễ dàng. Tuy nhiên, dựa trên các cơ sở pháp lý quy định đối tượng này cũng như căn cứ vào tình hình thực tế, có thể khái quát như sau: 6 Những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là công dân Việt Nam, được bố trí làm công việc chuyên môn ở chính quyền cấp xã nhưng không thường xuyên, liên tục; giúp cấp ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn thể cấp xã giải quyết công việc ở cơ sở và trực tiếp giải quyết các vấn đề của người dân, góp phần đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh trật tự trên địa bàn xã, phường, thị trấn; những người hoạt động không chuyên trách cấp xã không được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, không được nâng bậc lương theo niên hạn, không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà chỉ được hưởng khoản trợ cấp hàng tháng, mức phụ cấp kiêm nhiệm và mức khoán kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước cấp cho địa phương. * Đặc điểm của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã: Thứ nhất, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã phần lớn xuất thân và sinh sống tại địa phương, gắn bó với nhau trong sinh hoạt hằng ngày và trong các mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, tình cảm,… Thứ hai, lực lượng những người không chuyên trách cấp xã đa số có trình độ chuyên môn thấp, ít được đào tạo chính quy, đa phần là trong quá trình làm việc, họ vừa làm vừa học để nâng cao trình độ chuyên môn.
Thứ ba, chế độ và lề lối làm việc của đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách cấp xã chưa chuyên nghiệp, mặc dù có văn bản quy định chức danh song chưa có quy định về nhiệm vụ cụ thể mà những người hoạt động không chuyên trách phải làm liên quan đến từng chức danh, công việc của họ chủ yếu phụ thuộc sự phân công của lãnh đạo chính quyền cấp xã trên cơ sở căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương. Thứ tư, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là những người trực tiếp làm việc, trao đổi những vấn đề liên quan đến người dân, là cầu nối truyền tải những thắc mắc, kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, 7 chính đáng của người dân để tham mưu lãnh đạo cấp xã có hướng giải quyết phù hợp nhằm đảm bảo vừa lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân, vừa đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật. Thứ năm, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là đối tượng không được hưởng lương, phụ cấp theo loại xã, thị trấn và không được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Họ chỉ được hưởng phụ cấp hàng tháng và tham gia bảo hiểm tự nguyện.
Thứ sáu, tính ổn định ở những người hoạt động không chuyên trách cấp xã thấp hơn so với cán bộ chuyên trách cấp xã do công việc của đối tượng này không thường xuyên, liên tục, và số lượng cũng thay đổi, biến động nhiều. * Chức năng nhiệm vụ: 1.Chức danh Tổ chức – Kiểm tra a) Nhiệm vụ về công tác Tổ chức: - Tham mưu, giúp việc cho Thường trực Đảng ủy về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng ủy; - Quy định tạm thời về tiêu chuẩn, nhiệm vụ; tuyển chọn và cơ chế quản lý đối với người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; – Tổng hợp các báo cáo định kỳ, chuyên đề về công tác tổ chức, cán bộ đảngviên của Đảng uỷ; – Tham mưu về công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên thuộc Đảng uỷ; thực hiện thủ tục tiếp nhận, chuyển sinh hoạt đối với đảng viên đến, đảng viên đi theo quy định. b) Nhiệm vụ về công tác kiểm tra – Tham mưu cho cấp ủy trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng; 8 – Tham mưu, xây dựng báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy theo định kỳ, sơ kết, tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, soạn thảo các văn bản có liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng theo sự phân công của Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra đảng ủy – Theo dõi, cập nhật các tài liệu, văn bản có liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng trong đảng bộ; làm thư ký trong các cuộc họp của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy. c) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thường trực Đảng uỷ phân công.
Chức danh Tuyên giáo – Dân vận a) Nhiệm vụ về công tác Tuyên giáo: – Nắm bắt tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta trên mọi lĩnh vực tư tưởng – văn hoá ở địa phương, kịp thời báo cáo, kiến nghị với cấp ủy nội dung, biện pháp giải quyết – Giúp cấp ủy tổ chức nghiên cứu, quán triệt, hướng dẫn triển khai thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng; kiểm tra và đánh giá tình hình triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của các cấp ở các tổ chức Đảng, đoàn thể ở địa phương; – Tổ chức phổ biến thời sự, chính sách theo kế hoạch của Ban Tuyên giáo cấp trên và sự chỉ đạo của cấp uỷ cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; – Tổ chức tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng nhân các ngày lễ lớn,các phong trào thi đua yêu nước trong đảng bộ và toàn xã; giúp cấp uỷ chỉ đạo các hoạt động văn hoá quần chúng, hoạt động thể dục thể thao, công tác văn hóa, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng; – Sưu tầm, biên soạn lịch sử (truyền thống) của đảng bộ, tổ chức tuyên truyền, phát huy truyền thống cách mạng của địa phương. 9 b) Nhiệm vụ về công tác Dân vận: – Phối hợp với các thành viên trong khối để tham mưu với cấp uỷ tổ chức thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về công tác dân vận. Theo dõi, kiểm tra tình hình, phản ánh diễn biến tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân; Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, đề xuất và kiến nghị các vấn đề về công tác dân vận với cấp uỷ và cấp trên; – Phối hợp các hoạt động với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước tới các tầng lớp nhân dân; hướng dẫn tổ chức các phong trào quần chúng thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, giúp cấp uỷ xử lý những vấn đề liên quan đến công tác dân vận. c) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thường trực Đảng uỷ phân công.
Chức danh Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc – Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã tham mưu Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam cấp xã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; – Trực tiếp giải quyết các công việc và đảm nhận một số lĩnh vực công tác được Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam cấp xã phân công; tổ chức hướng dẫn thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và chỉ đạo hướngdẫn hoạt động của Ban công tác Mặt trận, theo dõi triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã – Trực tiếp hướng dẫn xây dựng và bổ sung quy ước, hương ước thôn, khu phố; – Triển khai các Chỉ thị, Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn công tác Mặt trận Tổ quốc cấp trên đến khu dân cư; – Trực tiếp tham gia xây dựng tổ hoà giải nhân dân ở khu dân cư; triển khai và vận động nhân dân ở khu dân cư giúp nhau xoá đói, giảm nghèo; 10 – Phối hợp với cấp uỷ, chính quyền tổ chức tiếp xúc cử tri với đại biểu; nắm bắt và thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên địa bàn xã. Chức danh Phó Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh – Phó Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã tham mưu cho Bí thư Đoàn Thanh niên cấp xã thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; – Trực tiếp giúp Bí thư Đoàn Thanh niên giải quyết các công việc hàng ngày,đảm nhận một số lĩnh vực công tác. Có trách nhiệm thu thập, xử lý các thông tin chuẩn bị các báo cáo về công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi ở cơ sở cho Đoàn cấp trên; quản lý và giải quyết công tác đoàn vụ của Đoàn, thay mặt Ban Chấp hành ký một số văn bản của Đoàn.