Chương 1 tập trung vào tổng quan tình hình nghiên cứu, bao gồm hệ thống các luận văn, luận án, các bài báo có liên quan đến nội dung đề tài đang nghiên cứu. Tác giả hệ thống lại cơ sở lý luận về thẻ và chất lượng dịch vụ thẻ tại các ngân hàng thương mại, bao gồm: (i) đưa ra một cái nhìn tổng quan nhất về thẻ ngân hàng, lịch sử hình thành và phát triển của thẻ trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Phân loại thẻ cũng như các chủ thể tham gia dịch vụ thẻ. (ii) chỉ ra khái niệm chất lượng dịch vụ thẻ và các yếu tố, chỉ tiêu ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thẻ của NHTM.Tổng quan tình hình nghiên cứu Hoạt động kinh doanh thẻ là vấn đề được nghiên cứu nhiều trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng tham luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các đề tài, đề án của một số NHTM trong và ngoài nước, các bài đăng trên các tạp chí, trang web uy tín trong nước.
Hầu hết các đề tài đã hệ thống hóa và làm rõ về thẻ, chất lượng dịch vụ thẻ của NHTM cũng như các mô hình, lý thuyết đánh giá chất lượng dịch vụ nói chung, mô tả được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ cũng như sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ trong giai đoạn hiện nay. Trong những năm qua, thẻ và chất lượng dịch vụ thẻ đã thu hút được sự quân tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Sau khi tham khảo một số luận văn, luận án và các bài báo, tác giả có thể chia ra một số nhóm các đề tài với nội dung, hình thức nghiên cứu tương tự như sau: 5 z Nhóm 1:nhóm các công trình nghiên cứu tiêu biểu đưa ra giải pháp phát triển dịch vụ thẻ Một số các công trình tiêu biểu theo nhận định của tác giả có thể kể tên như sau: - Luận án tiến sĩ: “Những giải pháp góp phần phát triển hình thức thanh toán thẻ ngân hàng ở Việt Nam”của tác giả Nguyễn Danh Lương năm 2003, - Luận án tiến sĩ: “Giải pháp cơ bản nhằm phát triển thị trường thẻ ngân hàng tại Việt Nam” của tác giả Trần Tấn Lộc, năm 2004. - Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Hoàng Thị Hạnh, năm 2013.
- Luận văn “Phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ” của tác giả Hán Thị Phương Thảo, năm 2014. - Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ thẻ ATM tại ngân hàng TMCP đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Vĩnh Phúc” của tác giả Bùi Thị Bích Ngọc, năm 2015. Nhóm luận văn này mới chỉ tập trung đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ dựa trên kết quả kinh doanh thẻ của ngân hàng, chứ chưa chú trọng đến ý kiến của khách hàng để đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ. Hầu hết những đề tài trên đều nghiên cứu theo phương pháp truyền thông gồm có 3 chương: Đi từ tổng quan về NHTM và dịch vụ thẻ để làm cơ sở phân tích thực trạng dịch vụ thẻ để rồi từ đó đưa ra các kiến nghị, đề xuất.
Nhóm 2:nhóm các công trình nghiên cứu tiêu biểu đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này gồm có: - Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Hương, năm 2008, 6 z - Luận văn “Hoàn thiện dịch vụ thẻ thanh toán của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” của tác giả Phan Thị Bạch Tuyết, năm 2009. - Luận văn “Nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam”của tác giả Trần Ngọc Thu Hương, năm 2012. - Bài báo “Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hằng, đăng trên tạp chí khoa học và công nghệ năm 2014. - Luận văn “Nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Trần Thị Thu Hằng, năm 2015.
Nhóm luận văn này tập trung vào các tiêu chí, đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thẻ. Đã thực hiện thu thập và xử lý dữ liệu bằng cách khảo sát bảng hỏi đối với đối tượng nghiên cứu, đồng thời sử dụng các phần mềm thống kê, mô hình kinh tế lượng để kiểm định các giả thuyết liên quan đến những nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ thẻ của ngân hàng… Tuy nhiên nhóm luận văn này đa phần mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả khảo sát thu thập được chứ chưa nói rõ mối liên quan giữa các biến khảo sát, mối liên hệ giữa vấn đề khảo sát với chất lượng dịch vụ thẻ. Hai nhóm đề tài trên đã nghiên cứu chỉ ra sự tác động của chất lượng dịch vụ thẻ đến khách hàng sử dụng thẻ, chỉ ra những lợi ích đạt được từ việc sử dụng dịch vụ thẻ mang lại cho khách hàng,hơn nữa chưa có đề tài nào thực hiện khảo sát ý kiến khách hàng về chất lượng và dịch vụ bán lẻ cung cấp cũng như sử dụng mô hình SERVQUAL trong đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ, từ đó có thể đưa ra những giải pháp mang tính khả thi, phù hợp cho Chi nhánh. Hơn nữa, trên thực tế, mặc dù các ngân hàng đã cố gắng đạt đến độ chuyên nghiệp trong hoạt động thể hiện ở việc chất lượng các dịch vụ cung cấp cho khách hàng tại các chi nhánh cùng hệ thống là như nhau, nhưng điều này vẫn chưa như mong muốn.
Các chi nhánh khác nhau thì có những đặc điểm khác 7 z nhau về vị trí, đặc thù nhân sự, tình hình kinh tế xã hội địa phương. Chính vì vậy rất cần những nghiên cứu chỉ ra cụ thể tại chi nhánh làm cơ sở để tham vấn cho ban lãnh đạo chi nhánh thúc đẩy hoạt động ngày càng tốt hơn. Trên cơ sở những lý thuyết cơ bản, kế thừa một số nội dung có tính lý luận, tác giả mong muốn nghiên cứu, đi sâu phân tích thực trạng hoạt động thẻ tại Ngân hàng BIDV Việt Nam nói chung và chi nhánh Thăng Long nói riêng; từ đó có đánh giá và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tại chi nhánh Thăng Long giai đoạn 2011-2016 1. Cơ sở lý luận về thẻ ngân hàng 1.
Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ Thẻ ngân hàng - “thẻ thanh toán” được ghi nhận là một phương tiện thanh toán thông dụng và văn minh nhất thế giới hiện nay. Tuy nhiên, ngân hàng không phải là nơi đầu tiên phát hành thẻ, trước đó đã có các cá nhân và công ty thực hiện nghiệp vụ thẻ này. Thẻ ngân hàng được hình thành tại Mỹ, dựa trên thói quen cho khách hàng mua chịu của các chủ tiệm theo dõi mỗi khách hàng một cách riêng rẽ, ghi rõ các khoản mà một khách sẽ phải trả và đồng ý cho người khách đó trả sau bởi họ tin tưởng vào khả năng thanh toán của khách hàng. Tuy nhiên, vốn của cửa hàng thường không đủ lớn nên không có đủ khả năng cho khách nợ liên tục như vậy.
Điều này đã giúp các tổ chức tài chính hình thành ý tưởng về sản phẩm thẻ. Với năng lực tài chính, khả năng quay vòng vốn và kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, các tổ chức ngân hàng tài chính có đủ khả năng để cung cấp cho khách hàng những khoản vay trong một thời gian nhất định. Lịch sử hình thành phương thức thanh toán bằng thẻ nói chung được ghi nhận vào năm 1914. Thẻ đầu tiên được phát hành do công ty Mỹ là Western Union cung cấp.
Đó là một tấm thẻ bằng kim loại với một số thông tin được in nổi lên trên để đảm bảo hai chức năng cơ bản: nhận dạng khách hàng và có thể lưu trữ thông tin được in nổi trên tấm kim loại. Sau một thời gian ngắn, các tổ chức khác cũng nhận ra được giá trị của loại 8 z hình dịch vụ này, rất nhiều đơn vị như các công ty du lịch, khách sạn, nhà hàng cũng như các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa chọn dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình. Cũng chính vì thấy được sự tiện lợi từ thẻ Western Union này, công ty General Petroleum của Mỹ cũng đã phát hành thẻ xăng dầu đầu tiên vào năm 1924. Như vậy có thể nói những tấm thẻ kim loại là nền tảng cho việc ra đời những tấm thẻ nhựa sau này.
Nắm bắt nhanh chóng và kịp thời xu thế của thị trường, các ngân hàng cũng đồng loạt tiếp cận hình thức thanh toán bằng thẻ. Chỉ vài năm sau đó, hàng trăm ngân hàng trên khắp nước Mỹ đã có giao dịch thanh toán trả chậm, chính là tiền thân của thẻ tín dụng sau này. Vào năm 1950, Frank Mc Namara và Ralph Schneider, hai doanh nhân người Mỹ, đồng thành lập ra Diners Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng và quên đem theo tiền mặt. Chính việc phải cam kết thanh toán sau đã gợi lên một ý tưởng kinh doanh thẻ đối với Frank Mc Namara.
Và tấm thẻ tín dụng đầu tiên, được làm bằng chất liệu plastic đã được ra đời kể từ đó. Hai ông đã cung cấp cho bạn bè, đồng nghiệp của mình thẻ Diners Club, cho phép họ có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một số nhà hàng, khách sạn ở New York và thanh toán số tiền này định kì theo tháng. Năm 1955, hàng loạt thẻ mới như Trip Charge, Golden Key, Gourmer Club rồi đến Carte Blanche và American Express ra đời và thống lĩnh thi trường. Năm 1966, ngân hàng Bank of American chính thức trao quyền phát hành thẻ Bank Americard của mình cho các ngân hàng khác thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, bắt đầu cho giai đoạn tăng tốc và phát triển dịch vụ thẻ.
Thẻ tín dụng lúc này không chỉ dành riêng cho các đối tượng giầu có và nổi tiếng mà dần trở thành phương thức thanh toán thông dụng. Với việc ký hợp đồng đại lý và cho các ngân hàng khác hưởng phí thanh toán chuyển đổi, Bank of American thực sự được chấp nhận trên toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ Quốc tế Visa. Năm 1979, Master Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn 9 z khác là Master Card.