phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng dịch vụ thanh toán nhập khẩu tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ THANH TOÁN NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.DỊCH VỤ THANH TOÁN NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Khát quát về thanh toán quốc tế và thanh toán nhập khẩu Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế giữa các nƣớc mà đặc biệt là quan hệ kinh tế quốc tế tất yếu phát sinh nhu cầu chi trả, thanh toán tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau.
Từ đó, nảy sinh nhu cầu thực hiện các hoạt động thanh toán quốc tế, và ngân hàng là cầu nối giữa các bên. Nhƣ vậy, TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, giữa hai lĩnh vực hoạt động này thƣờng giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt.
Hơn nữa, do hoạt động TTQT đƣợc hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thƣơng và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thƣơng, chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, ngƣời ta thƣờng phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực rõ ràng là: Thanh toán trong ngoại thƣơng (thanh toán mậu dịch) và Thanh toán phi ngoại thƣơng (thanh toán phi mậu dịch). Thanh toán nhập khẩu là một hình thức thanh toán mậu dịch, là việc thực hiện nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài thông qua hệ thống ngân hàng. Các NHTM trở thành cầu nối 7 trung gian thanh toán giữa bên mua và bên bán; tham gia hỗ trợ về kỹ thuật nghiệp vụ và tài chính cấp các phương án lựa chọn phương thức thanh toán, tài trợ, đảm bảo an toàn và quyền lợi của cả hai bên mua bán, thông qua đó thúc đẩy ngoại thương phát triển và mở rộng các quan hệ với các quốc gia trên thế giới. Ngày nay, cùng với xu hƣớng mở rộng và phát triển không ngừng của các mối quan hệ thƣơng mại đa chiều, dịch vụ TTQT nói chung và dịch vụ TTNK nói riêng cũng dần đƣợc mở rộng và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu tốt hơn.Vai trò của dịch vụ thanh toán nhập khẩu 1.Đối với nền kinh tế Hoạt động nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong thƣơng mại quốc tế, tạo tác động trực tiếp và quyết định đến hoạt động sản xuất và đời sống ở mỗi quốc gia.
Nhập khẩu để tận dụng lợi thế so sánh giữa các quốc gia, mở rộng khả năng tiêu dùng của một nƣớc khi giúp bổ sung hàng hóa mà trong nƣớc không sản xuất đƣợc hoặc việc sản xuất không đáp ứng đƣợc nhu cầu, là yếu tố tác động tích cực đến việc xuất khẩu, sản xuất tiêu dùng trong nƣớc, tạo điều kiện phát triển mối quan hệ kinh tế quốc tế. Đối với điều kiện kinh tế Việt Nam, vai trò tích cực của nhập khẩu đƣợc thể hiện ở các khía cạnh: Tăng cƣờng nhập khẩu công nghệ, thiết bị máy móc làm rút ngắn khoảng cách về trình độ kỹ thuật của Việt Nam so với thế giới Nhập khẩu nguyên vật liệu có chất lƣợng cao, giá rẻ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trƣờng trong và ngoài nƣớc Giúp tạo lập đƣợc các mối quan hệ hợp tác kinh tế tốt với các nƣớc, tạo thế đối trọng cho thúc đẩy xuất khẩu Góp phần nâng cao trình độ và chất lƣợng sống của ngƣời dân (nhập 8 khẩu sản phẩm văn hóa, hàng tiêu dùng…) Hàng nhập khẩu cạnh tranh trên thị trƣờng nội địa kích thích các nhà sản xuất trong nƣớc cải tiến công nghệ và sản phẩm để tồn tại và phát triển Chính vì hoạt động nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nên dịch vụ TTNK cũng vì thế mà góp phần không nhỏ trong sự phát triển kinh tế của đất nƣớc. Dịch vụ TTNK đƣợc các ngân hàng thƣơng mại cung ứng hỗ trợ doanh nghiệp nhập khẩu trong khâu thanh toán, giúp doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ thanh toán, giữ gìn uy tín đối với đối tác, giúp tƣ vấn cho doanh nghiệp hình thức và điều kiện thanh toán tối ƣu, đóng góp vào ngân sách nhà nƣớc từ nguồn thu dịch vụ.Đối với khách hàng Khi sử dụng dịch vụ TTNK, quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng đƣợc tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi hơn và tiết kiệm tối đa chi phí. Ngoài ra, quyền lợi của khách hàng đƣợc đảm bảo hơn do khách hàng đƣợc ngân hàng tƣ vấn để lựa chọn các phƣơng thức thanh toán, kỹ thuật thanh toán cũng nhƣ đồng tiền thanh toán nhằm giảm thiểu rủi ro, tạo ra sự an tâm cho khách hàng trong giao dịch mua bán với nƣớc ngoài.
Khi cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cho vay để thanh toán, đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp. Qua việc cung ứng dịch vụ TTNK, ngân hàng có thể giám sát đƣợc tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu để có những tƣ vấn cho khách hàng và những điều chỉnh về chiến lƣợc khách hàng.Đối với ngân hàng thương mại Dịch vụ TTNK là một trong những sản phẩm dịch vụ trọng yếu và là một trong những nghiệp vụ chính mang lại nhiều lợi ích cho hoạt động của NHTM. Với việc cung ứng dịch vụ, NHTM sẽ thu hút đƣợc nhiều khách hàng có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, từ đó giúp ngân hàng phát triển thêm 9 quy mô, tăng nguồn thu nhập, tăng thị phần và tăng khả năng cạnh tranh. Cụ thể là: Giúp cho hoạt động tín dụng tài trợ nguồn vốn thanh toán đƣợc đẩy mạnh Tăng đƣợc nguồn vốn huy động tạm thời do quản lý đƣợc nguồn vốn nhàn rỗi từ khách hàng Các dịch vụ liên quan khác của ngân hàng nhƣ kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh, dịch vụ tài khoản thanh toán… cũng phát triển theo.
Tăng tính thanh khoản cho ngân hàng thông qua lƣợng tiền ký quỹ trong ngắn hạn và lƣợng tiền tập trung chờ thanh toán, nguồn tiền này tƣơng đối ổn định và phát sinh thƣờng xuyên. Thu đƣợc khoản phí từ việc cung ứng dịch vụ Nắm đƣợc tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện quản lý có hiệu quả hoạt động nhập khẩu trong nƣớc theo đúng chính sách của Nhà nƣớc Giúp mở rộng và nâng cao uy tín cũng nhƣ thƣơng hiệu của ngân hàng trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế.Các phƣơng thức thanh toán sử dụng chủ yếu trong dịch vụ thanh toán nhập khẩu tại ngân hàng thƣơng mại 1.Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance) Phƣơng thức này có thể đƣợc sử dụng trong dịch vụ chuyển tiền thông thƣờng cung cấp cho các tổ chức kinh tế, cá nhân. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, phƣơng thức này đƣợc xét đến trong mối liên hệ với dịch vụ thanh toán nhập khẩu mà đối tƣợng khách hàng là các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa dịch vụ từ nƣớc ngoài. Vì vậy, chuyển tiền là phƣơng thức thanh toán trong đó khách hàng (ngƣời ra lệnh chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển trả một số tiền nhất định cho một ngƣời khác (ngƣời hƣởng lợi) theo một địa điểm 10 nhất định và trong một thời gian nhất định.
Đặc điểm của phương thức chuyển tiền Trong phƣơng thức chuyển tiền, ngân hàng đơn thuần chỉ thực hiện chức năng chuyển tiền trên danh nghĩa ngƣời mua và nhận tiền trên danh nghĩa ngƣời bán mà không bị ràng buộc trách nhiệm. Việc chuyển tiền cho nhà xuất khẩu tùy thuộc vào thiện chí của nhà nhập khẩu trong trƣờng hợp chuyển tiền sau khi nhận hàng, và không có đảm bảo việc nhà xuất khẩu sẽ thực hiện trách nhiệm nhƣ trong hợp đồng đối với chuyển tiền trƣớc khi nhận hàng. Có 2 loại hình thức chuyển tiền: bằng điện (TTR – Telegraphic Transfer) và bằng thƣ (MT – Mail transfer). Trong thực tiễn ngân hàng hiện đại, hình thức TTR đƣợc sử dụng nhiều hơn MT Việc sử dụng phƣơng thức này khá đơn giản, không đòi hỏi cao về mặt nghiệp vụ, chi phí chuyển tiền thấp hơn các phƣơng thức khác.Phương thức thanh toán nhờ thu Nhờ thu là một phƣơng thức thanh toán mà trong đó ngƣời bán (nhà xuất khẩu) sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, hoặc cung ứng dịch vụ cho ngƣời mua (nhà nhập khẩu), sẽ ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng thu hộ cho bên mua (nhà nhập khẩu) để đƣợc thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác… Căn cứ vào nội dung chứng từ đƣợc gửi đến ngân hàng nhờ thu mà ngƣời ta phân loại thành nhờ thu phiếu trơn (Clean collections) và nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collections).
Tuy nhiên trên thực tế, phƣơng thức chủ yếu đƣợc sử dụng là nhờ thu kèm chứng từ với 2 loại là nhờ thu trả ngay (D/P – Documents against Payment, CAD – Cash against Documents) hay nhờ thu chấp nhận trả tiền (D/A – Documents against Acceptance) 11 Đặc điểm của phương thức nhờ thu Ngân hàng là trung gian thu hộ tiền cho nhà xuất khẩu và không có trách nhiệm về việc thu tiền có đạt kết quả hay không. So với D/P thì D/A rủi ro hơn cho nhà xuất khẩu trong việc thanh toán nếuđến hạn thanh toán nhà nhập khẩu không trả tiền. Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phƣơng thức này là “Quy tắc thống nhất về nhờ thu” số 522 của Phòng Thƣơng mại quốc tế, bản sửa đổi năm 1995 (Uniform Rules for the collection no.Phương thức tín dụng chứng từ Phƣơng thức tín dụng chứng từ (L/C - Letter of credit) thực chất là một sự thỏa thuận, mà sự thỏa thuận này đƣợc thể hiện bằng nội dung một bức thƣ hay một bức điện, gọi là Thƣ tín dụng hay Tín dụng thƣ.