Chương 1: Các vấn đề cơ bản CMCN 4.0 trong lĩnh vực TCNH trên Thế giới và Việt Nam. Chương này chủ yếu giới thiệu chung về khái niệm, lịch sửa phát triển công nghệ 4.0, những phạm trủ ứng dụng trong TCNH, vài trò tác động của CMCN 4.0 trong hoạt động ngân hàng, cơ hội và khó khăn thách thức, kinh nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam. ~_ Chương 2: Thực tiễn tăng cường triển khai dịch vụ trên nền tảng công nghệ 4.0 tại ngân hàng vietcombank. Chương này chủ yếu mô tả phân tích và liệt kê các sản phẩm và dịch vụ ứng dụng 4.0 mà Vietcombank đã triển khai từ 2017 đến nay, cũng như phân tích chia sẻ những thuận lợi và khó khăn thách thức ngân hàng Vietcombank phải đối mặt.
~_ Chương 3: Các giải pháp tăng cường và đề xuất của tác giả đối với nội dung nghiên cứu. Chương này chủ yếu đưa ra nhận xét và đánh giá trên quan điểm cá nhân về xu hướng của cuộc cách mạng này trong hoạt động ngân hàng thời gian tới, những giải pháp đối với việc triển khai ứng dụng CMCN 4.0 tại ngân hàng Vietcombank nói riêng và Việt Nam nói chung. CHUONG 1: CAC VAN DE CO BAN VE CACH MANG CONG NGHE 4.0 TRONG LĨNH VỰC TAI CHINH NGAN HANG TREN THE GIOI VA TAL VIET NAM 1. Khái quát chung về CMCN 4.0 trong lĩnh vực ngân hàng 1.
Lịch sử phát triển của CMCN 4.0 Trong lịch sử, Chúng ta bước qua 3 cuộc CMCN và đang ở cuộc cách mạng thứ 4. Trải rộng từ thế kỷ 18-19, cuộc CMCN đầu tiên với sự ra đời của động cơ hơi nước, sản xuất dựa trên phân công lao động. Tiếp đó là cuộc CMCN thứ 2 (1870- 1914) với phát minh và ứng dụng của điện năng vào hoạt động sản xuất, sản phim được tạo ra nhiều hơn. Rồi CNTT, internet và robot tự động ra đời, giúp hoạt động, sản xuất được tự động hóa, đó chính là cuộc CMCN lần 3 vào năm 1969.
Hiện tại, thế giới đang tiến đến cuộc cách mạng mới với sự kết nói thông minh và số hóa- cách mạng công nghiệp 4. Nếu như CMCN 3.0 chủ yếu tập trung phát triển về sản xuất tự động hoá, công nghệ và kỹ thuật số, thì cuộc CMCN 4.0 lại tập trung vào kết nói thông minh xóa bỏ đi ranh giới giữa vat ly, ky thuật số và sinh học m a Ó 17894 — 1871-1914 1969 2000s Cơ khi hóa với máy Động cơ điện và Kỷ nguyên máy Các hệ thông liên chạy bằng thủy lực dây chuyểnsản tỉnhvảty động kết thể giới thực và hơi nước xuất hàng loạt hóa và ảo Hình 1. Những cuộc CMCN trong lịch sử 10 Nguén: Vién Han lim KHXH Viét Nam.0 xoay quanh kết nối gồm 11 trụ cột chính đó là Internet kết nối vạn vật, Robot thông minh, Phương tiện tự hành, In 3D, Điện toán đám mây, Internet di động, Năng lượng tái tạo, Gene thế hệ mới, Vật liệu tiên tiến và tự động hóa. Tuy nhiên có thể gộp lại thành 3 trụ cột chính là công nghệ vật lý, công nghệ sinh học và công nghệ số.
Trong đó công nghệ số là trụ cột cốt lõi nhất của CMCN 4.0 trong ngành TCNH, trụ cột này chủ yếu đê cập đền việc kết ni trực tuyến, không giới hạn, không danh giới, phá vỡ danh giới khoảng cách, thời gian, và đề cao việc chuyển đồi hình ảnh và dữ liệu áo thành thực tế thông qua ứng dụng CNTT, internet vạn vật, di động, trí thông minh nhân tạo, điện toán đám mây Cuộc CMCN 4.0 đã và đang ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hàng ngày của con người về mọi mặt, từ ăn uống, mua sắm, từ làm việc đến giải trí, v. Nó đang thay đổi phong cách sống và hành vi sống của con người, thậm chí cả suy nghĩ và tư duy.0 đã mang lại tác động mang tính cách mạng đối với các hệ thống sản xuất và dịch vụ, cũng như chuỗi cung ứng. Trong môi trường của nền công nghiệp.0, các nhà máy thông minh, sản phẩm thông minh được tạo ra đáp ứng những yêu cầu khắt khe nhất của khách hàng. Doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh được số hóa, sinh lợi và bền vững.
Các hệ thống và dịch vụ sản xuất có khả năng theo thời gian thực, có thể tương tác, theo mô-dun, phi tập trung, ảo hóa và định hướng dịch vụ. Chuỗi cung ứng có thê nhìn thấy, kết nói và tích hợp day đủ.đó là những động lực thôi thúc các quốc gia, doanh nghiệp trong quá trình triển khai công nghệ và số hóa. Trong hai năm vừa qua, dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của dịch bệnh Covid 19 trên toàn cầu, càng đẩy nhanh và thôi thúc các doanh nghiệp trong các ngành như tài chính, dịch vụ, tiêu dùng, giáo dục, y tế. mau chóng tiến hành chuyền đổi công nghệ số và thực tế cho thây công cuộc chuyền đổi số trong nên kinh tế của các quốc gia trong đó có Việt Nam đã được triển khai sớm hơn thực tế kế hoạch từ 2-3 năm, để đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất, tiêu thụ và đặc biệt hơn không ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm, sử dụng của người tiêu dùng, giúp các đơn vị này phần nào khắc phục và vượt qua được khó khăn trong thời gian dịch bệnh.
Khái niệm về CMCN 4.0 trong ngành chính ngân hàng Cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực tài chính ngân hàng là việc ứng dụng các trụ cột trong cuộc CMCN 4.0 như internet vạn vật kết nói (Iot), Trí tuệ nhân tạo AI, điện toán đám mây, blockchain. vào hoạt động kinh doanh và hoạt động quản trị của ngân hàng nhằm đem lại sự hiệu quả cho ngân hang và người sử dụng. Cụ thể: Ứng dụng CMCN 4.0 trong ngân hàng là việc (1) đưa công nghệ mới, hiện đại, sáng tạo, hợp xu thế vào nghiệp vụ trước đây của ngân hàng, từ đó làm phong phú sản phẩm ngân hàng, đem lại sự tiện ích cho người sử dụng và/hoặc (2) triển khai công nghệ số vào hoạt động quản trị, các quy trình nội bộ nhằm tối ưu hiệu quả quản trị, tối giản chỉ phí, hạn chế rủi ro cho HĐKD của ngân hàng nhẳn đạt đến mục tiêu. Mặc dù CMCN 4.0 mới chỉ được nhắc đến và triển khai rằm rộ gần đây, tuy nhiên, CMCN 4.0 là thừa kế trên nền tảng của CMCN 3.0 và như vậy bản chat CMCN đã xuất hiện rất sớm trong TCNH với tiền thân là ứng dụng CNTT và internet, các ứng dụng đơn giản như thẻ rút tiền, máy rút tiền ATM, Pos quẹt thẻ, SMS banking,, ngân hàng điện tử i@banking, hệ thống chuyền tiền quốc tế swift.
Hiện nay, CMCN 4.0 hướng đến tầm cao hơn đó là ngân hàng số, ngân hàng ảo — ngân hang không có địa điểm vật lý (Virutal Bank), ngân hàng mở, ví điện tử, thương mại điện tử, tiền kỹ thuật số, sàn giao dịch kỹ thuật số.0) là ngân hàng truyền thống vốn có với sự có mặt của các chỉ nhánh vật lý, mọi giao dịch đều phải thực hiện hoàn toàn tại ngân hàng; Ngan hang (2.0) đã bắt đầu xuất hiện của công nghệ, internet đã dần đây một 12 số dịch vụ các ngân hàng ra khỏi chỉ nhánh vật lý với sự ra đời của đầu đọc thẻ và máy ATM, giai đoạn này kéo dài từ những năm 1980 và đến 2007; Ngân hàng 3.0 Thời kỳ tiếp theo từ những năm 2007 đến trước 2015 với sự ứng dụng của internet, ngân hàng di động, và hầu hết các dịch vụ của ngân hàng đều. có thê thực hiện “di động” Các dịch vụ này có thể được cung cấp trên nên tảng điện thoại thông minh hoặc thậm chí là đâu đọc thẻ di động.0 là một sự thay đổi và cách biệt hoàn toàn, với sự bùng nỗ internet, trí thông minh nhân tạo sẽ đưa đến hệ thống ngân hàng kỹ thuật số, sẽ tăng. tốc độ xử lý và tăng hiệu quả trong giao dịch của khách hàng. Tác động của CMCN 4.0 đến hoạt động ngành ngân hàng Cuộc CMCN 4.0 đã tác động đến mọi mặt, mọi ngành nghề trong nền kinh tế gồm cả TCNH.
TCNH là lĩnh vực đi đầu đã vận dụng sức mạnh của nền tảng cách mạng 4.0 một cách sâu rộng để truyền đổi nội tại ngân hàng. Không chỉ ngân hàng, mà các công ty trong ngành như bảo hiểm, chứng khoán, tài chính tiêu dùng ở khắp. nơi trên thế giới đều đang chịu ảnh hưởng từ cuộc CMCN 4. Cu thé: 'Với ngân hàng, Cuộc CMCN 4.0 đã tác động rõ nét đến HĐKD, ra đời những.
mô hình kinh doanh mới như ngân hàng ảo (virtual bank), ngân hàng mở (open bank).0 còn tác động trực tiếp đến việc phát triển sản phim và dịch vụ đặc thù của ngân hàng mà trước đây chưa có, như dịch vụ kết nói máy chủ Host to Host, tài khoản ảo (Virtual Account), thanh toán trên nền tảng công nghệ chuỗi khối (blockchain).Nó còn tác động đến nội tại ngân hàng như phương thức và hệ thống. quản trị, quy trình nội bộ, nguồn nhân lực. Với sự ra đời của mô hình kinh doanh mới, sản phẩm mới, ngân hàng buộc phải thay đổi lại quy trình, định hình lại mô hình quản trị (gồm quản trị rủi ro, quản trị hệ thống.) và nguồn lực phủ hợp với thực tế. Với người sử dụng: Nhờ sự tiến công nghệ, người dùng sẽ được trải nghiệm những dịch vụ ưu việt với chỉ phí rẻ hơn, thời gian giao dịch nhanh hơn.
Một số ảnh hưởng của CMCN 4.0 tới ngành TCNH như sau: Đầu tiên, CMCN 4.0 làm phong phú, đa dạng hóa sản phẩm và nghiệp vụ ngân hàng, phong phú kênh giao dịch, giảm tỷ lệ giao dịch tại quầy, nâng cao tỷ lệ giao. 13 dịch trên ngân hàng số, chuyên dần giao dịch của khách hàng từ vật lý sang internet, giúp khối lượng giao dịch được thực hiện nhiều hơn, liên tục hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Các ngân hàng sẽ tích cực đầu tư công nghệ để cạnh tranh, để giảm chỉ phí. Việc thay đổi này mang hướng tích cực cho cả hai bên, trong đó khách hàng.
nhận được sự trải nghiệm mới với nhiều tiện ích tích hợp và quan trọng hơn cả là chỉ phí thấp. Theo số liệu của công ty Sapo thống kê trong năm 2021 cho thấy, dịch bệnh covid 19 thay đổi thói quen giao dịch của đại bộ phận nhân dân, trong đó giao dịch không tiền mặt chiếm tới 70%, chủ yếu thực hiện qua việc thanh toán chuyển khoản 36.5%, ví điện tử khoảng 15%, thanh toán qua quét mã QR khoảng 9.6% và thẻ ngân hàng khoảng 8.5%, trong khi lượng giao dịch tiền mặt chỉ còn khoảng 30%, chủ yếu. do giãn cách xã hội và việc thanh toán điện tử vô cùng tiện lợi.