Đề án thạc sĩ nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại UBND tỉnh Đắk Nông năm 2025

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông hiệu quả, minh bạch.

Trường đại học

Đại học Huế - Trường Đại học Kinh tế

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Nguyễn Trung Kiên

Thể loại

Đề án thạc sĩ

2025

128
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan dịch vụ hành chính công tại UBND tỉnh Đắk Nông

Dịch vụ hành chính công giữ vai trò huyết mạch trong quản lý nhà nước. Cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ này nhằm phục vụ quyền lợi hợp pháp của cá nhân và tổ chức. Tại tỉnh Đắk Nông, Ủy ban nhân dân các cấp triển khai hoạt động hành chính gắn liền với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Địa bàn tỉnh có diện tích rộng và địa hình chia cắt phức tạp. Dân cư phân bố không đồng đều với nhiều thành phần dân tộc thiểu số sinh sống. Điều này tạo ra những yêu cầu riêng biệt cho công tác hành chính. Chất lượng dịch vụ phản ánh năng lực quản trị của bộ máy công quyền. Một nền hành chính hiện đại đòi hỏi sự minh bạch, nhanh chóng và công bằng. Cơ quan hành chính phải chuyển đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ. Người dân và doanh nghiệp được coi là đối tượng thụ hưởng trực tiếp. Nâng cao chất lượng dịch vụ giúp củng cố niềm tin của xã hội vào bộ máy chính quyền. Công tác này cũng thúc đẩy môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. Đắk Nông đặt mục tiêu xây dựng chính quyền điện tử gắn liền cải cách hành chính thực chất. Mọi quy trình tiếp nhận hồ sơ phải đảm bảo rõ ràng về thời hạn và trách nhiệm.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ hành chính công

Dịch vụ hành chính công gắn liền với quyền lực pháp lý của nhà nước. Đây là hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nhà nước nắm quyền cung ứng độc quyền loại dịch vụ này nhằm duy trì trật tự pháp luật. Hoạt động này hoàn toàn phi lợi nhuận. Chi phí thực hiện được bù đắp qua nguồn ngân sách cùng hệ thống phí, lệ phí do pháp luật quy định. Mọi cơ quan thực thi phải đảm bảo tính công bằng tuyệt đối. Mọi đối tượng trong xã hội đều có quyền tiếp cận dịch vụ một cách bình đẳng. Sự hài lòng của người thụ hưởng chính là thước đo giá trị dịch vụ. Việc thực hiện đúng chuẩn mực quy trình giúp ngăn ngừa tiêu cực và lãng phí thời gian.

1.2. Vai trò nâng cao chất lượng dịch vụ tại địa bàn Đắk Nông

Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía nam Tây Nguyên với vị trí chiến lược quan trọng. Tỉnh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố và 7 huyện. Nâng cao chất lượng dịch vụ công là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế địa phương. Dịch vụ tốt thu hút doanh nghiệp đến đầu tư và mở rộng sản xuất. Thủ tục tinh gọn giúp giảm bớt chi phí không chính thức cho người dân. Bộ máy chính quyền vận hành trôi chảy tạo dựng môi trường xã hội ổn định. Chất lượng phục vụ phản ánh mức độ quan tâm của nhà nước đối với đồng bào các dân tộc. Việc hiện đại hóa thủ tục hành chính giúp xóa bỏ khoảng cách địa lý giữa các vùng sâu và trung tâm đô thị.

II. Thực trạng dịch vụ hành chính công tại UBND tỉnh Đắk Nông

Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông đạt nhiều tiến bộ trong cải cách hành chính. Cơ chế một cửa và một cửa liên thông phát huy hiệu quả tích cực. Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh tiếp nhận và xử lý hàng ngàn hồ sơ mỗi năm. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn đạt mức cao. Cán bộ công chức từng bước nâng cao tinh thần trách nhiệm. Tuy nhiên, một số vấn đề tồn đọng vẫn gây cản trở chất lượng dịch vụ. Quy trình xử lý tại một số sở ban ngành còn rườm rà. Thời gian giải quyết hồ sơ đất đai và đầu tư đôi khi bị kéo dài. Sự phối hợp liên cơ quan chưa thực sự chặt chẽ và đồng bộ. Hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại các huyện vùng sâu còn hạn chế. Tốc độ đường truyền mạng và trang thiết bị máy tính chưa đáp ứng yêu cầu xử lý trực tuyến mức độ cao. Một bộ phận người dân chưa quen thao tác trên môi trường số. Cán bộ giải quyết thủ tục đôi lúc thiếu sự lắng nghe và thấu cảm với người dân. Những hạn chế này làm giảm mức độ hài lòng chung đối với cơ quan nhà nước.

2.1. Kết quả tích cực trong giải quyết thủ tục hành chính

Tỉnh Đắk Nông nỗ lực đơn giản hóa các thủ tục giấy tờ phức tạp. Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh vận hành theo hướng chuyên nghiệp hóa. Việc niêm yết công khai thủ tục tại bộ phận một cửa được thực hiện nghiêm túc. Người dân dễ dàng tra cứu mã hồ sơ và tiến độ thực hiện qua mạng internet. Tỷ lệ trả lời và xử lý phản ánh kiến nghị đạt kết quả khả quan. Tinh thần phục vụ của đội ngũ công chức trẻ có chuyển biến rõ rệt. Việc số hóa hồ sơ đầu vào tạo tiền đề tốt cho kho dữ liệu điện tử. Nhiều đơn vị hành chính cấp huyện ghi nhận tỷ lệ hồ sơ đúng hẹn trên chín mươi lăm phần trăm.

2.2. Những rào cản và hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng

Chất lượng dịch vụ hành chính công vẫn đối mặt với nhiều rào cản nội tại. Một số quy định liên thông giữa các cơ quan ban ngành thiếu tính nhất quán. Tình trạng trễ hẹn trong lĩnh vực đất đai và tài nguyên môi trường vẫn xảy ra. Hạ tầng công nghệ số ở các huyện như Tuy Đức hay Đắk Glong chưa đồng đều. Trang thiết bị máy móc tại cấp xã chưa đáp ứng trọn vẹn yêu cầu vận hành phần mềm chuyên ngành. Năng lực ứng dụng công nghệ của cán bộ ở cơ sở chưa thực sự đồng bộ. Một số công chức thiếu kỹ năng giao tiếp ứng xử khi tiếp nhận hồ sơ. Công tác kiểm tra và giám sát nội bộ chưa được tiến hành thường xuyên.

III. Giải pháp nâng cao dịch vụ hành chính công tại UBND tỉnh Đắk Nông

Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp mang tính chiến lược. Trước hết, quy trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục phải được rà soát định kỳ. Các bước trung gian rườm rà cần bị cắt giảm quyết liệt nhằm rút ngắn thời gian xử lý. Việc ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp trọng tâm hàng đầu. Tỉnh cần đầu tư nâng cấp hạ tầng mạng viễn thông tại các địa bàn vùng sâu. Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh phải tích hợp đồng bộ với Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Cơ quan hành chính cần đẩy mạnh việc tiếp nhận hồ sơ trực tuyến toàn trình. Yếu tố con người quyết định trực tiếp tới hiệu quả công tác. Tỉnh cần mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ cho đội ngũ công chức một cửa. Kỹ năng giao tiếp và đạo đức công vụ cần được rèn luyện thường xuyên. Cơ chế thanh tra và giám sát độc lập phải được duy trì nghiêm túc. Việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân phải diễn ra khách quan và minh bạch.

3.1. Đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện cơ sở hạ tầng

Chuyển đổi số là chìa khóa đột phá trong cải cách hành chính tại Đắk Nông. Tỉnh cần tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung thống nhất. Hệ thống phần mềm một cửa điện tử cần nâng cấp tính năng tương tác tự động. Đường truyền internet tốc độ cao phải được phủ rộng tới tất cả các buôn làng xa xôi. Các điểm bưu điện văn hóa xã cần phát huy vai trò hỗ trợ người dân nộp hồ sơ trực tuyến. Việc số hóa toàn bộ kết quả giải quyết thủ tục hành chính giúp tiết kiệm ngân sách lưu trữ. Người dân chỉ cần cung cấp thông tin cá nhân một lần duy nhất qua tài khoản định danh điện tử.

3.2. Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ

Đội ngũ cán bộ công chức giữ vai trò trung tâm quyết định chất lượng dịch vụ. Tỉnh Đắk Nông cần chuẩn hóa tiêu chuẩn cán bộ làm việc tại bộ phận một cửa. Các chương trình đào tạo cần chú trọng kỹ năng lắng nghe và xử lý tình huống. Tinh thần trách nhiệm và thái độ hòa nhã với nhân dân là yêu cầu bắt buộc. Cơ quan quản lý phải xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả công việc rõ ràng. Các cá nhân có thành tích xuất sắc cần được khen thưởng kịp thời. Ngược lại, hành vi nhũng nhiễu hay chậm trễ hồ sơ phải bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc. Việc luân chuyển cán bộ định kỳ giúp ngăn ngừa phát sinh tiêu cực trong công tác tiếp dân.

IV. Đánh giá hiệu quả dịch vụ hành chính công tại UBND tỉnh Đắk Nông

Nâng cao chất lượng hành chính công là một lộ trình dài hạn và liên tục. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông khẳng định quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong công cuộc này. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp công nghệ và quản trị đã đem lại kết quả cụ thể. Sự hài lòng của tổ chức và công dân từng bước trở thành kim chỉ nam cho hoạt động công vụ. Tỉnh không ngừng nỗ lực cải thiện các chỉ số cải cách hành chính và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Một nền hành chính minh bạch giúp khơi thông các nguồn lực xã hội. Môi trường đầu tư kinh doanh của địa phương ngày càng trở nên thông thoáng và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư lớn. Người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận các tiện ích công một cách dễ dàng và công bằng hơn. Thời gian tới, tỉnh tiếp tục hoàn thiện mô hình hành chính phục vụ chuyên nghiệp và hiện đại. Thành công của công cuộc cải cách này sẽ tạo động lực vững chắc cho sự phát triển toàn diện của Đắk Nông.

4.1. Lợi ích đối với đời sống kinh tế và doanh nghiệp

Quy trình hành chính tinh gọn đem lại nhiều lợi thế cạnh tranh cho tỉnh Đắk Nông. Doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí tuân thủ thủ tục pháp lý. Thủ tục đầu tư và đăng ký kinh doanh được xử lý nhanh chóng tạo niềm tin lớn cho các nhà đầu tư. Cơ chế một cửa liên thông giúp giải quyết vướng mắc về đất đai và giấy phép xây dựng kịp thời. Môi trường pháp lý minh bạch loại bỏ các chi phí không chính thức phát sinh ngoài dự kiến. Dòng vốn đầu tư đổ vào các ngành nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến gia tăng nhanh chóng. Sự tăng trưởng này tạo ra hàng ngàn việc làm mới và nâng cao thu nhập cho lao động địa phương.

4.2. Định hướng xây dựng chính quyền số tại Đắk Nông

Định hướng tương lai của Đắk Nông gắn liền với mục tiêu xây dựng chính quyền số toàn diện. Mọi hoạt động quản lý nhà nước sẽ được số hóa và vận hành trên nền tảng điện toán đám mây. Cơ quan hành chính đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến không phụ thuộc địa giới hành chính. Dữ liệu công dân được liên thông toàn quốc qua căn cước điện tử. Mô hình Trung tâm giám sát điều hành thông minh tỉnh được củng cố và hoàn thiện. Cơ quan chức năng theo dõi chất lượng phục vụ của cán bộ qua các chỉ số thời gian thực. Sự chuyển mình này hướng tới mục tiêu xây dựng một nền hành chính phục vụ chuyên nghiệp, minh bạch và thân thiện với nhân dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/10/2026
Nâng cao chất lựợng dịch vụ hành chính công tại ủy ban nhân dân tỉnh đăknông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG 1. Lý thuyết về dịch vụ công và dịch vụ hành chính công 1. Dịch vụ công 1. Khái niệm dịch vụ công Theo từ điển Le Petit Larousse: “Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”.

Định nghĩa này đưa ra cách hiểu chung về dịch vụ công, song ở đây không có sự phân biệt giữa Nhà nước và tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công, do đó không làm rõ được tính chất “công” của dịch vụ này [7]. Ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ công những năm gần đây đã được một số tác giả đề cập đến, có tác giả cho rằng: “Dịch vụ công chỉ là hoạt động của các cơ quan sự nghiệp như giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, sự nghiệp kinh tế (không phải là loại cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước)”. Có nhiều chủ thể tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ cho xã hội, các chủ thể này rất đa dạng, từ các cơ quan hành chính nhà nước cho đến các doanh nghiệp công và tư, các tổ chức xã hội và từng cá nhân. Thông thường, việc cung ứng dịch vụ cũng theo quy luật cung – cầu trên thị trường.

Các dịch vụ được cung ứng đều có giá trị và giá trị sử dụng. Song, có những loại dịch vụ rất quan trọng phục vụ nhu cầu chung của cả cộng đồng, nhưng không một tư nhân nào muốn cung ứng, vì nó không mang lại lợi nhuận, hoặc tư nhân đó không có đủ quyền lực và vốn để tổ chức việc cung ứng, như dịch vụ tiêm chủng, cứu hỏa, thoát nước. Đó lại là những loại dịch vụ tối cần thiết phục vụ cho cuộc sống an toàn và bình thường của xã hội. Đối với những loại dịch vụ này, không có ai khác ngoài Nhà nước có khả năng và trách nhiệm cung ứng cho nhân dân [1].

Theo luật hành chính công thì Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, do Nhà 10 nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện nhằm bảo đảm trật tự, lợi ích chung và công bằng xã hội. Tóm lại, Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội. Dịch vụ công gồm dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích. Đặc điểm dịch vụ công Các loại dịch vụ công và các hình thức cung ứng dịch vụ công tuy có đặc điểm, tính chất khác nhau, song chúng có những đặc điểm chung cơ bản như sau: Thứ nhất, là những hoạt động có tính chất xã hội, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng.

Đây là những dịch vụ phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã hội để bảo đảm cuộc sống được b́ ình thường và an toàn. Thứ hai, là những hoạt động do các cơ quan công quyền hay những chủ thể được chính quyền ủy nhiệm đứng ra thực hiện. Thứ ba, để cung ứng các dịch vụ công các cơ quan nhà nước và tổ chức được ủy nhiệm cung ứng có sự giao tiếp với người dân ở những mức độ khác nhau khi thực hiện cung ứng dịch vụ. Thứ tư, việc trao đổi dịch vụ công thông qua quan hệ thị trường đầy đủ.

Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước để Nhà nước tổ chức việc cung ứng một cách đều đặn như một sự “thỏa thuận trước”. Nhưng cũng có những dịch vụ mà người sử dụng vẫn phải trả thêm một phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên, đối với các loại dịch vụ này, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm việc cung ứng không nhằm vào mục tiêu thu lợi nhuận. Thứ năm, mọi người dân (bất kể đóng thuế nhiều hay ít, hoặc không phải đóng thuế) đều có quyền hưởng sự cung ứng dịch vụ công ở một mức độ tối thiểu, với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền. Lượng dịch vụ công cộng mà mỗi người tiêu dùng không phụ thuộc vào mức thuế mà người đó đóng góp.

11 Thứ sáu, khác với những loại dịch vụ thông thường được hiểu là những hoạt động phục vụ không tạo ra sản phẩm mang h́ ình thái hiện vật, dịch vụ công là những hoạt động của bộ máy nhà nước phục vụ các nhu cầu thiết yếu của xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật. Thứ bảy, xét trên góc độ kinh tế học, dịch vụ công là các hoạt động cung ứng cho xã hội những hàng hóa công cộng. Theo nghĩa hẹp, hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà khi nó đã được tạo ra thật khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó và việc tiêu dùng của mỗi người không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác. Hàng hóa công cộng mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này.

Đó là nguyên nhân dẫn đến chỗ Chính phủ trở thành người sản xuất hoặc bảo đảm cung cấp các loại hàng hóa công cộng. Còn theo nghĩa rộng, hàng hóa công cộng là “những hàng hóa và dịch vụ được Nhà nước cung cấp cho lợi ích của tất cả hay đa số nhân dân”. Dịch vụ công là những hoạt động cung ứng các hàng hóa công cộng xét theo nghĩa rộng, bao gồm cả những hàng hóa có tính cá nhân thiết yếu được Nhà nước bảo đảm cung ứng như điện, nước sinh hoạt. Tóm lại, dịch vụ công là tất cả những gì mà Nhà nước có trách nhiệm cung ứng cho xã hội.

Như vậy, dịch vụ công là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu (lợi ích) chung thiết yếu của xã hội [8]. Dịch vụ hành chính công 1. Khái niệm dịch vụ hành chính công Theo Nguyễn Ngọc Hiến và cộng sự (2006) hành chính theo nghĩa rộng là chỉ những hoạt động, những tiến trình chủ yếu có liên quan đến những biện pháp để thực thi các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trước. Khi có từ hai người trở lên cùng làm việc với nhau, thì lúc đó xuất hiện một hình thức thô sơ của quản lý.

Dạng quản lý này chính là hoạt động hành chính, hay nói cách khác, hành chính chính là một dạng của quản lý. Hay theo nghĩa hẹp, hành chính là những hoạt động quản lý các công việc của nhà nước, xuất hiện cùng với nhà nước [8]. 12 Hành chính công bao gồm luật pháp, các quy tắc, quy chế, thiết chế… để điều tiết hoạt động quyền hành pháp; Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy hành chính cũng như mối quan hệ mà trong đó các công chức làm việc. Hành chính công còn bao gồm những đội ngũ CBCC làm việc trong bộ máy hành chính công quyền.

Những người này là người có trách nhiệm thực thi công vụ mà nhà nước đã giao. Theo Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ thì Dịch vụ hành chính công là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận do cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân được ủy quyền thực hiện nhằm cung cấp thông tin, cấp phép, xác nhận, chứng thực, quyết định hành chính, bổ trợ tư pháp, trích lục hồ sơ, bản án có hiệu lực pháp luật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Dịch vụ hành chính công là những hoạt động giải quyết các công việc cụ thể liên quan đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân đuợc thục hiện dựa vào thẩm quyền hành chính - pháp lý của Nhà nước. Dịch vụ hành chính công do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện thông qua 2 chức năng cơ bản: chức năng quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và chức năng cung ứng dịch vụ công cho tổ chức và công dân.

Nói cách khác, “Dịch vụ hành chính công là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý nhà nước” (Lê Chi Mai, 2006). Tuy nhiên, một số nước không dùng khái niệm dịch vụ hành chính công mà chỉ sử dụng khái niệm “dịch vụ công” cho tất cả các loại dịch vụ. Đặc điểm của dịch vụ hành chính công Dịch vụ hành chính công có những đặc điểm sau: Một là, việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước - mang tính quyền lực pháp lý - trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công dân như cấp các loại giấy phép, giấy khai sinh, công chứng, hộ tịch. 13 Thẩm quyền hành chính pháp lý thể hiện dưới hình thức các dịch vụ hành chính công nhằm giải quyết các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, là hoạt động phục vụ công dân từ phía các cơ quan hành chính nhà nước.

Các hoạt động này không thể ủy quyền cho bất kỳ tổ chức nào ngoài cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện và chỉ có hiệu lực khi được cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện mà thôi. Vì vậy, nhu cầu được cung ứng các dịch vụ hành chính công của người dân (khách hàng) không phải là nhu cầu tự thân của họ mà xuất phát từ các quy định có tính chất bắt buộc của Nhà nước. Nhà nước bắt buộc và khuyến khích mọi người thực hiện các quy định này nhằm đảm bảo trật tự và an toàn xã hội, thực hiện chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Hai là, Dịch vụ hành chính công nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước.

Dịch vụ hành chính công bản thân chúng không thuộc về chức năng quản lý nhà nước, nhưng lại là hoạt động nhằm phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Trung Kiên (2025), Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, Đề án thạc sĩ, Đại học Huế - Trường Đại học Kinh tế, Huế.
APA 7
Nguyễn, T. K. (2025). Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông [Đề án thạc sĩ, Đại học Huế - Trường Đại học Kinh tế]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/nang-cao-chat-luong-dich-vu-hanh-chinh-cong-tai-ubnd-tinh-dak-nong/9387454553
IEEE
T. K. Nguyễn, "Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông," Đề án thạc sĩ, Đại học Huế - Trường Đại học Kinh tế, Huế, 2025. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/nang-cao-chat-luong-dich-vu-hanh-chinh-cong-tai-ubnd-tinh-dak-nong/9387454553

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác