phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương: Chƣơng I: Cơ sơ lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng II: Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu để dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT. Chƣơng III:Thực nghiệm sư phạm. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về sơ đồ, bảng biểu và sơ đồ, bảng biểu dạy học Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2009) đã đưa ra khái niệm về sơ đồ và bảng biểu như sau: Sơ đồ là những hình vẽ quy ước có tính chất sơ lược nhằm mô tả đặc trưng nào đó của đối tượng hay quá trình nào đó.
Sơ đồ dạy học là loại sơ đồ mô tả một nội dung kiến thức nào đó được sử dụng làm phương tiện trực quan trong quá trình dạy học. Bảng biểu là bảng thường có cột và hàng dùng để kê một nội dung nào đó theo thứ tự, cách thức nhất định. Còn biểu là bảng kê danh mục, số liệu để làm căn cứ đối chiếu. Bảng biểu dạy học: là một phương tiện dạy học gồm các cột và các hàng được bố trí trên một mặt phẳng thể hiện mối liên hệ.
Trên một bảng biểu thể hiện mối quan hệ giữa các cột, các hàng. Theo Bạch Thị Lan Anh (2013) có bài viết Giới thiệu phương pháp dạy học theo sơ đồ, trong bản tin khoa học, tác giả đã đưa ra cách hiểu sơ đồ hóa kiến thức là một trong những hình thức trực quan của quá trình dạy học. Sơ đồ, mô hình là hình ảnh có tính biểu tượng được xây dựng trên các sự vật, các yếu tố trong cấu trúc sự vật và mối liên hệ giữa các yếu tố đó dưới dạng trực quan cảm tính (quan sát được, cảm nhận được). Sơ đồ tạo thành một tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc và logic bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và trực quan cụ thể, nhằm giúp cho người học nắm vững một cách trực tiếp, khái quát những nội dung cơ bản, đồng thời qua đó phát triển năng lực nhận thức cho người học [1, tr.
Với phương tiện dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu dưới sự điều khiển và hướng dẫn của giáo viên, tính tích cực học tập của học sinh được phát huy. Học sinh sẽ hứng thú, chủ động khám phá và lĩnh hội kiến thức. Đồng thời tính sáng tạo, khả 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng hoạt động độc lập và hợp tác của học sinh cũng sẽ được rèn luyện, đáp ứng được mục tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới. Vai trò của sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học ở trường THPT Quá trình dạy học được cấu thành từ hoạt động quan hệ qua lại giữa thầy và trò.
Phương pháp dạy học phải phản ánh mối quan hệ qua lại giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Để phát huy cao nhất tính tích cực nhận thức của HS, thì người GV phải biết cách tổ chức các hoạt động học tập trong dạy học cho phù hợp với nội dung cụ thể của tri thức, đặc trưng riêng của từng môn học và bản thân HS. Với đặc thù của bộ môn Sinh học là một môn học nghiên cứu các đối tượng sống, nên việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ có ưu thế lớn, thể hiện: 1. Đối với giáo viên -Sử dụng sơ đồ, bảng biểu giúp cho cấu trúc nội dung của bài giảng trở nên hợp lí và khoa học hơn.
Về bản chất sơ đồ, bảng biểu sử dụng trong dạy học sẽ thể hiện được các phần nội dung của bài giảng một cách cô đọng thông qua cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu. Như vậy, sơ đồ, bảng biểu có thể coi như là một công cụ giúp cho công việc soạn giảng của GV được tốt hơn, trong việc chuyển hóa nội dung tài liệu giáo khoa thành nội dung của bài soạn giảng.Cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu cũng thể hiện được trình tự logic của nội dung bài giảng. Mối quan hệ giữa các yếu tố được thể hiện một cách tiềm ẩn qua cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu. - Sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp cho GV có một kế hoạch thực hiện tiết dạy lên lớp được tốt hơn.
Sau khi đã thiết kế một sơ đồ, bảng biểu thể hiện cô đọng cấu trúc nội dung bài giảng, GV cần phải cân nhắc, lựa chọn phương pháp thực hiện khai thác và sử dụng sơ đồ, bảng biểu đó như thế nào để làm rõ nội dung của bài giảng. Cụ thể là phải sử dụng hình thức tổ chức dạy học (cá nhân, nhóm hay cả lớp), các bước lên lớp, hệ thống câu hỏi, phương pháp dạy học sao cho phù hợp với loại sơ đồ, bảng biểu và đối tượng HS. Từ định hướng phương thức thực hiện, GV tiếp tục phân bố thời lượng cho từng công việc, từng phần nội dung và các bước tiến hành sao cho hợp lí. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, việc sử dụng sơ đồ bảng biểu đã giúp cho GV có được một kế hoạch lên lớp rõ ràng chi tiết không quá tỉ mỉ hoặc không quá sơ sài về cấu trúc và nội dung của bài soạn giảng, đáp ứng được yêu cầu của khâu thiết kế một bài soạn theo tinh thần đổi mới hiện nay - Sơ đồ, bảng biểu góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên.
Bài soạn giảng thực chất là một kế hoạch thực hiện một tiết lên lớp của người GV. Để kế hoạch ấy thật khoa học, chi tiết và phù hợp với đối tượng, đòi hỏi người GV phải nghiên cứu kĩ các nguồn tài liệu, mục tiêu và kiến thức cơ bản của nội dung bài giảng đã được xác định. Người GV bắt đầu lựa chọn loại sơ đồ, bảng biểu rồi thiết kế sơ đồ sao cho phù hợp với mỗi phần nội dung của bài giảng. Sơ đồ, bảng biểu phải thực sự trở thành phương tiện dạy học trực quan, chứa đựng những kiến thức sinh học tiềm ẩn, dựa vào đó để làm rõ nội dung bài giảng.
Để giải quyết vấn đề đó hiệu quả, đòi hỏi người GV phải đầu tư vào đào sâu suy nghĩ và lựa chọn phương án giải quyết bằng hệ thống các câu hỏi để làm rõ nội dung của sơ đồ, bảng biểu; tổ chức hoạt động học tập sao cho hợp lí.Quá trình nghiên cứu tài liệu tham khảo để làm rõ nội dung sơ đồ - nội dung bài giảng góp phần nâng cao trình độ và chuyên môn nghiệp vụ của người GV. - Sơ đồ còn là phương tiện dùng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Trong quá trình dạy kiến thức mới và củng cố hoàn thiện kiến thức nếu rèn luyện được cho HS lập sơ đồ để tăng cường tính tự học và phát triển tư duy của HS. Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS vừa có tác dụng gợi nhớ kiến thức, vừa giúp cho HS rèn luyện kỹ năng khai thác sơ đồ, bảng biểu và tư duy cũng sẽ được khai thác.
Đối với việc dạy học Sinh học ở trên lớp - Sơ đồ, bảng biểu góp phần hoàn thành nội dung bài giảng theo đúng mục tiêu đã định tiết kiệm thời gian và công sức. Qua thực tế cho thấy, trong sách giáo khoa Sinh học ở bậc THPT hiện nay lượng nội dung kiến thức của khá nhiều bài bị quá tải so với thời lượng của một tiết học ở trên lớp. Theo quy định, một tiết học trên lớp chỉ có 45 phút nhưng thời gian ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ, đánh giá và hoạt động nối tiếp đã hết khoảng 10 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Như vậy, thời lượng chỉ còn khoảng 35 phút để thực hiện nội dung bài giảng.
Vì vậy, tình trạng “chạy” để hoàn thành chương trình đã xảy ra khá phổ biến. Sử dụng sơ đồ, bảng biểu tận dụng tối đa những từ khóa và những hình vẽ sinh động sáng tạo. Một khối lượng kiến thức lớn, phong phú vẫn có thể cấu trúc lại bằng một sơ đồ, một bảng biểu hết sức ngắn gọn, cô đọng, súc tích mà không bỏ sót bất cứ thông tin nào quan trọng. Đồng thời tất cả những kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học sẽ được khắc sâu, dễ dàng xâu chuỗi các dấu hiệu bản chất của đối tượng.
Khi cần tái hiện không cần mất quá nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu, mà chỉ cần sử dụng một sơ đồ, bảng biểu thể hiện toàn bộ kiến thức một toàn bộ kiến thức một cách nhanh chóng đầy đủ và chính xác. Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp cho GV tiết kiệm thời gian và công sức mà hiệu quả không hề giảm sút. -Sơ đồ, bảng biểu còn là một loại phương tiện trực quan dùng để hình thành các khái niệm Sinh học rất hiệu quả, nhất là những khái niệm trừu tượng. Con đường để hình thành khái niệm Sinh học rất phong phú và đa dạng với nhiều phương pháp dạy học khác nhau.
Nhưng cũng có nhiều khái niệm, nhất là những khái niệm trừu tượng, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ là con đường mang lại hiệu quả cao, giúp HS hiểu và tiếp thu các khái niệm một cách nhẹ nhàng, bền vững. Trong trường hợp những khái niệm trừu tượng, sơ đồ, bảng biểu sẽ trở thành những loại phương tiện trực quan để hình thành khái niệm hiệu quả nhất. Bởi lẽ, sơ đồ, bảng biểu có thể khái quát các đặc điểm cơ bản, bản chất của các sự vật hiện tượng Sinh học. Thông qua việc khai thác sơ đồ, bảng biểu cùng với các thao tác tư duy logic (so sánh, suy diễn, quy nạp, phân tích tổng hợp…) các khái niệm Sinh học sẽ được hình thành.
- Sơ đồ, bảng biểu còn là một loại phương tiện trực quan tư duy Sinh học. Chúng ta có thể hiểu về phương tiện trực quan như sau: Phương tiện trực quan là những phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy và học, có vai trò là công cụ để người giáo viên tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, làm tăng khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích dạy học cụ thể. Hay nói cách khác, cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp HS có một tư duy định hướng. Tư duy đó sẽ được khai thác, phát triển và kiểm định bằng việc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.