CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm liên quan tới đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp 1.Nhân lực Nhân lực là nguồn lực quan trọng của mọi tổ chức. Nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Còn theo khía cạnh cá nhân con người, nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm (2013: tr 7) “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” Thể lực chỉ là sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc nghỉ ngơi hay thời gian công tác, giới tính… Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con người.
Qua đó, có thể nói nguồn lực trong mỗi con người là không giới hạn. Bởi những nhân tố tưởng chừng như có hạn như sức khỏe, thể lực của con người, đặt trong trường hợp nào đó lại có thể vượt xa hơn cái tưởng chừng là giới hạn đã có. Theo Trần Xuân Cầu (2010: tr 12), “Nhân lực là sức lực con người nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một lúc nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” Qua đó, nhân lực cá nhân mỗi người là nguồn lực của mỗi con người, nó bao gồm thể lực và trí lực.
Đối với tổ chức, nhân lực được hình thành từ mỗi cá nhân và được liên kết với nhau theo mục tiêu nhất định của tổ chức. Thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng và trình độ của nhân lực. Nguồn nhân lực của tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau được liên kết với nhau trên những mục tiêu nhất định. Luan van 9 Tóm lại, Nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.Quản trị nhân lực Có rất nhiều quan điểm về quản trị nhân lực như: Theo Nguyễn Hữu Thân (2005: tr 45) “Quản trị nhân sự là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp những tiện nghi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức” Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền (2007: tr 18) nhận định “Quản trị nhân sự chính là chức năng cán bộ, một trong những chức năng cơ bản của quản trị nhân sự là đi sâu vào nghiên cứu, khai thác mọi tiềm năng cho nhân viên, khuyến khích họ làm việc chủ động, sáng tạo với hiệu suất cao, làm việc tận tâm trung thành với Công ty” Lê Trọng Hùng (2009: tr 48 ), “Quản trị nhân lực là việc hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nguồn nhân lực phát huy khả năng của mình nhằm đtạ được mục tiêu của tổ chức đề ra” Tuy nhiên, tác giả đi theo khái niệm quản trị nhân lực được Trần Kim Dung đưa ra trong cuốn Quản trị nguồn nhân lực, năm 2011 như sau: Trần Kim Dung (2011: tr 29), “Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả các yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp.” Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và gìn giữ một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng.
Xuất phát từ tầm quan trọng của con người đối với các hoạt động của doanh nghiệp mà quản trị nhân lực có những vai trò đặc biệt như sau: Thứ nhất, quản trị nhân lực góp phần phát huy năng lực làm việc của con người ở mức độ triệt để và hiệu quả. Ở những điều kiện bình thường con người chỉ Luan van 10 phát huy nỗ lực làm việc ở mức độ trung bình, tuy nhiên nếu được sử dụng và khích lệ đúng, con người có thể phát huy năng lực làm việc ở mức độ cao nhất, thậm chí có thể tạo ra các sáng kiến và thành quả mà bình thường họ cũng không nghĩ tới. Thứ hai, quản trị nhân lực quyết định có vai trò quyết định trong việc thành công hay thất bại của doanh nghiệp, bởi các lý do như: con người là chủ thể của mọi hành động; nhân lực là nguồn lực quý giá của mọi tổ chức; chất lượng đội ngũ nhân lực của doanh nghiệp mới quyết định năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp chứ không phải là các yếu tố khác trong hàm sản xuất như vốn, công nghệ, đất đai…; con người là yếu tố phức tạp nhất, vừa có dấu ấn đặc thù của xã hội vừa có những đặc tính thuộc về tâm lý cá nhân. Do vậy, hành động của con người rất phức tạp và thay đổi tùy thuộc vào cả hai tác động đó.
Thứ ba, quản trị nhân lực là hoạt động nền tảng để trên cơ sở đó, triển khai các hoạt động quản trị khác. Mọi quản trị suy đến cùng là quản trị con người. Nếu thống nhất rằng, quản trị là tổng hợp những hoạt động được thực hiện nhằm đạt mục tiêu thông qua sự nỗ lực của những người khác thì điều này có nghĩa là mọi quản trị, từ quản trị chiến lược đến quản trị tác nghiệp và quản trị hậu cần cũng chính là thông qua việc phát huy sự thực hiện của những người khác, và đó chính là quản trị nhân lực. Tóm lại: Nội dung của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm bốn nội dung cơ bản.
Đó là tuyển dụng nhân lực; bố trí và sử dụng nhân lực; đào tạo và phát triển nhân lực; đãi ngộ nhân lực. Các nội dung này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và quy định lẫn nhau. Tuyển dụng là tiền đề của bố trí, sử dụng và đạo tạo phát triển; Bố trí, sử dụng sẽ tác động đến đào tạo phát triển và đãi ngộ. Nếu thiếu một trong những nội dung trên thì quản trị nhân lực sẽ không còn là quản trị nhân lực nên trong thực tiễn, các nhà quản trị phải thực hiện đồng bộ cả bốn nội dung.Đào tạo nhân lực Có nhiều cách hiểu về Đào tạo nhân lực và khái niệm Đào tạo nhân lực có thể được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau: Theo Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương (2010: tr 82), “Đào tạo nhân lực là quá trình cung cấp các kiến thức, hoàn thiện các kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình thực hiện công việc của họ các thời điểm hiện tại và tương lai” Luan van 11 Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm (2013: tr 153) “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình.” Theo tác giả Trần Kim Dung (2011: tr 56) có viết “Đào tạo là bất cứ nỗ lực nào để cải thiện kết quả của nhân viên, dựa trên công việc hiện nay họ đang nắm giữ hoặc công việc nào có liên quan”.
Điều này có nghĩa là những thay đổi về mặt kiến thức, những kỹ năng, quan điểm hoặc thái độ cụ thể. Để đạt được hiệu quả việc tạo nên liên quan đến kinh nghiệm học tập là một hoạt động có tổ chức và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu đã nhận biết. Nói cách khác, nên thiết kế việc đào tạo để đáp ứng nhu cầu của tổ chức trong khi vẫn đáp ứng được nhu cầu của nhân viên. Đào tạo nhân lực là một hoạt động có tổ chức và được thực hiện trong một thời gian nhất định, nhằm đem đến sự thay đổi về thể lực và trí lực của con người.
- Là quá trình học tập để con người chuẩn bị cho tương lai, để họ có thể thuyên chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp - Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức. Từ các quan điểm đó, tác giả đi theo khái niệm đào tạo nhân lực của Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương, rút ra đào tạo nhân lực là quá trình hoạt động học tập, rèn luyện kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Chính điều đó đòi hỏi việc đào tạo nhân lực trong mọi tổ chức, doanh nghiệp phải được thiết kế sao cho thỏa mãn nhu cầu cuả người lao động và tổ chức, doanh nghiệp. Việc đào tạo là hoạt động cần thiết cho sự thành công của tổ chức và phát triển của con người.
Quy trình đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp Đào tạo nhân lực của doanh nghiệp được tiến hành từ bước xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo và đánh giá công tác đào tạo nhân lực theo mô hình tổng quan quy trình tổ chức công tác đào tạo nhân lực đã được Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương (2010) đưa ra trong cuốn Quản trị nhân lực (Hình 1.1) Luan van 12 Xây Triển dựng khai Đánh Xác kế thực giá định hoạch hiện chương nhu cầu đào tạo đào tạo trình& đào tạo kết quả đào tạo Hình 1.1: Mô hình tổng quan quy trình tổ chức công tác đào tạo nhân lực (Nguồn: Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương, 2010) Đây là mô hình tổng quan về quy trình tổ chức công tác đào tạo nhân lực nói chung. Tùy thuộc vào từng doanh nghiệp và từng đối tượng đào tạo mà công tác đào tạo sẽ có sự xây dựng cũng như thực hiện khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất cho công tác đào tạo nhân lực của doanh nghiệp.